CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ NHTM VÀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG 1. Ngân hàng thương mại - Ngân hàng: Ngân hàng đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử phát triển của con người. Mầm mống của ngân hàng đã xuất hiện từ thời Hy Lạp cổ với những người chuyển tiền tại các khu chợ và phát triển qua nhiều giai đọan để trở thành một ngân hàng hiện đại.Ngày nay có khá nhiều cách khác nhau để định nghĩa một ngân hàng. Tuy nhiên, ở Việt Nam, định nghĩa sau có lẽ là phù hợp nhất: Là một loại hình doanh nghiệp, vừa hoạt động theo luật doanh nghiệp và luật các tổ chức tín dụng.
Là một đơn vị có hoạt động kinh doanh bình thường như các loại hình doanh nghiệp khác, bên cạnh đó cũng có các nghiệp vụ kinh doanh rất đặc biệt. Do đó ngân hàng là loại hình doanh nghiệp đặc biệt. Ngân hàng là một trung gian tín dụng, là cầu nối giữa nơi thừa vốn và thiếu vốn. Ngân hàng hiện đại có thể được phân làm nhiều loại.
Trong số đó, ngân hàng thương mại, hay còn gọi là ngân hàng ký thác, là loại ngân hàng phổ biến ở Việt nam hiện nay. - Ngân hàng thương mại: Là ngân hàng thu nhận những khoản ký thác của công chúng, và sử dụng những khoản ký thác đó để cho vay lại. Phần lớn các khoản cho vay này phục vụ cho mục đích công nghiệp và thương mại. SVTT: Tống Bảo Ngọc 3 GVHD: Th.S Đào Trung Kiên Hoạt động của một ngân hàng thưởng bao gồm nhiều nghiệp vụ khác nhau: huy động vốn, tín dụng, thanh toán quốc tế, và các dich vụ khác.
- Các nghiệp vụ ngân hàng: Huy động vốn Khi huy động vốn, ngân hàng sẽ tìm cách thu hút khách hàng, tổ chức và cá nhân, mang tài sản bằng tiền của mình đến cho ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng với trách nhiệm hoàn trả. Đây là hoạt động cơ bản, có tính sống còn của 1 NHTM, vì nó tạo ra nguồn vốn chủ yếu của các NHTM. NHTM huy động vốn thông qua các dịch vụ tiền gửi như: tiền gửi thanh toán, tiền tiết kiệm… Ngoải ra ngân hàng còn có thể huy động thông qua việc phát hành giấy tờ có giá và một số nguồn vốn huy động khác. Tín dụng Là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Thanh toán quốc tế Là một trong số các nghiệp vụ của ngân hàng trong việc thanh toán giá trị của các lô hàng giữa bên mua và bán thuộc lĩnh vực ngoại thương. Hiện nay, ngân hàng cung cấp một số phương thức thanh toán quốc tế phổ biến là: o Chuyển tiền: bằng điện hoặc thư o Trả tiền lấy chứng từ (CAD: cash against document) o Nhờ thu o Tín dụng thư (L/C) Nghiệp vụ khác SVTT: Tống Bảo Ngọc 4 GVHD: Th.S Đào Trung Kiên Ngoài các hoạt động chính, ngân hàng còn cung cấp cho khách hàng một số dich vụ khác như: o Các dich vụ thanh toán hộ: thanh toán hóa đơn, trả lương cho nhân viên, thanh toán trực tuyến,… o Các dịch vụ tư vấn đầu tư o Các dịch vụ hỗ trợ khách hàng khác như: chuyển khoản, truy vấn tài khoản,… 1. Khái niệm: Tín dụng cá nhân là khoản tín dụng tài trợ cho chi tiêu cá nhân và hộ gia đình với các chi phí liên quan đến vật chất và dịch vụ như: sản xuất kinh doanh (SXKD), nhà cửa, y tế,… nhằm mục đích phục vụ đời sống và nâng cao kinh tế gia đình 1. Đặc điểm: Điểm giống nhau của khoản tín dụng này với các khoản tín dụng khác là một khoản ứng trước, nhưng còn có đặc điểm riêng khác như: - Quy mô món vay nhỏ - Khó xác định khi xét duyệt tư cách người vay - Người tài trợ biến động vì phụ thuộc vào các yếu tố biến động: nghề nghiệp, kỹ năng, sức khỏe… của người vay - Độ rủi ro tương đối cao - Chu kỳ kinh tế ảnh hưởng đến khoản vay này 1.
Rủi ro trong hoạt động ngân hàng 1. Định nghĩa rủi ro tín dụng Phần lớn các nghiệp vụ ngân hàng đều chứa đựng rủi ro. Tuy nhiên trong số các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại, tín dụng là nghiệp vụ mang đến lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng, nên cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn nhiều rủi SVTT: Tống Bảo Ngọc 5 GVHD: Th.S Đào Trung Kiên ro nhất. Rose, rủi ro tín dụng xảy ra khi một số tài sản (đặc biệt là các khoản cho vay) giảm giá trị hay không thể thu hồi.
Do vốn chủ sở hữu của ngân hàng so với tổng giá trị tài sản là rất nhỏ nên chỉ cần 1 tỷ lệ nhỏ danh mục cho vay có vấn đề sẽ có thể đẩy một ngân hàng tới nguy cơ phá sản. Việc cho vay chiếm một tỷ lệ lớn trong hoạt động tín dụng của ngân hàng.Khi rủi ro tín dụng xảy ra, các khoản nợ của khách hàng sẽ trở thành nợ quá hạn, nợ nhóm 2, 3, và 4. Những khoản nợ này càng nhiều thì sẽ tác động không tốt đến ngân hàng trên nhiều mặt; rủi ro tín dung tăng có thể giảm uy tín ngân hàng, giảm khả năng thanh khoản, gây tổn thất về tài sản của ngân hàng… 1. Phân loại rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng có thể được phân ra thành 2 loại chính: rủi ro giao dịch (transaction risk), và rủi ro danh mục (portfolio risk).
- Rủi ro giao dịch (transaction risk): Là những rủi ro phát sinh do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm 3 bộ phận chính: Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo. SVTT: Tống Bảo Ngọc 6 GVHD: Th.S Đào Trung Kiên Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề.
- Rủi ro danh mục (portfolio risk): Là rủi ro phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng. Rủi ro này được phân thành hai loại: Rủi ro nội tại:xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. Rủi ro tập trung:là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.
Nguyên nhân rủi ro tín dụng: Trong quá trình cấp tín dụng của một ngân hàng, rủi ro tín dụng có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau. Ta có thể phâ loại rủi ro tín dụng theo hai nhóm chính: rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan. - Nguyên nhân khách quan: Do môi trưởng kinh tế: Trong những năm gần đây, nền kinh tế thế giới có những biến động không ngừng và phần lớn là theo chiều hướng xấu. Những thay đổi này đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của Việt Nam vì nền kinh tế Việt Nam vốn lệ thuộc vào nhiều mặt hàng nhập khẩu như sắt thép, xăng SVTT: Tống Bảo Ngọc 7 GVHD: Th.S Đào Trung Kiên dầu, phân bón,… cũng như các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như: nông sản, dệt may,….
Việt Nam hiện nay cũng đang dần hội nhập vào nền kinh tế thế giới, và tự do hóa hoạt động tài chính. Việc này làm tăng mạnh áp lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp và ngân hàng trong nước vì doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn hạn chế về nhiều mặt như công nghệ, trình độ quản lý, và vốn. Đồng thời, khi Việt Nam gia nhập vào các tổ chức kinh tế thế giới, doanh nghệp mất đi sự hỗ trợ của nhà nước do phải tuân theo ‘luật chơi’ quốc tế. Hiện nay, nhiều ngành kinh tế phát triển một cách tự phát, thiếu sự định hướng, quy hoạch, phân công, và điều tiết vĩ mô của nhà nước, dẫn đến việc các doanh nghiệp và ngân hàng dễ bị cuốn vào các hội chứng kinh tế.
Vì vậy, khi thị trường bắt đầu bão hòa hay cân đối cung cầu thì diễn ra tình trạng thừa gây khó khăn cho các khoản đầu tư và cho vay của doanh nghiệp và ngân hàng Do môi trường pháp lý: Cơ quan pháp luật địa phương hoạt động kém hiệu quả: còn nhiều vướng mắc trong việc thu hồi nợ NHNN chưa thanh tra, kiểm soát chặt chẽ, và hiệu quả các ngân hàng thương mại; phương pháp chủ yếu là thanh tra tại chỗ. Ngoài ra, khả năng kiểm soát toàn bộ thị trường tiền tệ và giám sát rủi ro còn yếu. Thanh tra vẫn thụ động xử lý vụ việc đã phát sinh, chưa tập trung ngăn chặn, phòng ngừa rủi ro, vi phạm sẽ xảy ra. Hệ thống quản lý thông tin ở Việt Nam còn nhiều bất cập.Hiện nay, Việt Nam chưa có cơ chế công bố thông tin về các doanh nghiệp và ngân hàng một cách minh bạch, đầy đủ.
CIC chưa phải là một nguồn thông tin đáng tin cậy về mức độ tín nhiệm tín dụng của khách hàng vì thông tin cung cấp còn sơ sài, ít cập nhật. SVTT: Tống Bảo Ngọc 8 GVHD: Th.S Đào Trung Kiên Các chính sách nhằm điều tiết nền kinh tế của chính phủ như: chính sách thuế, chính sách XNK, chính sách cho vay,… cũng có thể làm phát sinh rủi ro tín dụng. Do các nguyên nhân khác: Thiên tai, hỏa hoạn, thay đổi thị hiếu của khách hàng, cơ sở hạ tầng kém,… đều có thể là nguyên nhân của rủi ro tín dụng. - Nguyên nhân chủ quan: Từ phía khách hàng: Sử dụng vốn vay sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ, tạo hồ sơ giả khi vay, hợp đồng kinh doanh vòng vo không xác thực.