Chương 1 LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI CÁC QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN 1. Hoạt động tín dụng tại các quỹ tín dụng nhân dân 1. Khái niệm tín dụng và quỹ tín dụng nhân dân 1. Khái niệm về tín dụng Tín dụng là “phạm trù kinh tế thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người đi vay, trong quan hệ này người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hoá cho người đi vay trong thời gian nhất định, khi tới thời hạn trả nợ người đi vay có nghĩa vụ hoàn trả số tiền hoặc hàng hoá cho người cho vay kèm theo một khoản lãi” [33].
Theo từ điển thuật ngữ tài chính thì: “Tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại trong các phương thức sản xuất hàng hóa khác nhau và được biểu hiện như sự vay mượn trong thời hạn nào đó”. Khái niệm vay mượn bao gồm cả sự hoàn trả. Chính sự hoàn trả là đặc trưng thuộc bản chất của tín dụng, là dấu ấn phân biệt phạm trù tín dụng với các phạm trù cấp tài chính khác. Theo nghĩa nguyên thủy, tín dụng (credit) là sự tin tưởng, tín nhiệm mà cho vay mượn các loại vật tư, hàng hóa, tiền tệ.
Như vậy, tín dụng không chỉ là sự vay mượn thông thường mà là sự vay mượn với một mức tín nhiệm nhất định. Tức là khi thực hiện quyền cho vay, người cho vay tin vào khả năng trả nợ của người đi vay. Hiểu theo nghĩa rộng, tín dụng là một loại quan hệ xã hội biểu hiện mối liên hệ kinh tế, trước hết là dựa trên cơ sở niềm tin. Tín dụng tồn tại và hoạt động là yếu tố khách quan và cần thiết cho sự phát triển mạnh mẽ, với các mối quan hệ cung cầu về tiền vốn như một đòi hỏi cần thiết khách quan của nền kinh tế.
Tín dụng là một hiện tượng kinh tế nảy sinh trong điều kiện sản xuất hàng hóa. Sự ra đời và phát triển của tín dụng 9 không chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu điều hòa vốn trong xã hội mà còn là một động lực thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế đất nước. Khái niệm về Quỹ tín dụng nhân dân - QTDND là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống [26]. - QTDND là loại hình tổ chức tín dụng (TCTD) hoạt động dựa trên nguyên tắc đặc thù, có sự khác biệt với các ngân hàng thương mại (nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động).
Mục tiêu hoạt động của quỹ này là nhằm tương trợ giữa các thành viên để phát triển sản xuất kinh doanh và đời sống. Hoạt động tín dụng của QTDND chủ yếu dưới hình thức cho vay dựa trên nguồn vốn huy động từ tiền gửi của các tổ chức, cá nhân. Khách hàng vay có thể là thành viên hoặc không phải là thành viên của quỹ, có thể là hộ nghèo đăng ký hộ khẩu và thường trú trên địa bàn hoạt động của quỹ. Việc vay vốn thường phải có đảm bảo nhằm thu hồi vốn đã cho vay trong trường hợp khách hàng vi phạm nghĩa vụ trả nợ.
- Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương (QTDNDTW) là tổ chức tín dụng hợp tác do các QTDND cùng nhau thành lập nhằm mục đích hỗ trợ và nâng cao hiệu quả hoạt động của cả hệ thống QTDND. Từ ngày 1/7/2013, QTDNDTW chuyển đổi thành NHHTX Việt Nam. - Ngân hàng hợp tác xã là ngân hàng của tất cả các QTDND do các quỹ tín dụng nhân dân và một số pháp nhân góp vốn thành lập theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng, nhằm mục tiêu chủ yếu là liên kết hệ thống, hỗ trợ tài chính, điều hòa vốn trong hệ thống các quỹ tín dụng nhân dân [26]. Đặc điểm, nguyên tắc hoạt động của các quỹ tín dụng nhân dân 1.
Đặc điểm của Quỹ tín dụng nhân dân 10 Thứ nhất: Quỹ TDND được xây dựng trên địa bàn xã, liên xã, phường, liên phường, cụm kinh tế có đủ điều kiện. Là một tổ chức kinh tế và cũng là một tổ chức xã hội hoạt động trên cùng địa bàn, có cùng tập quán, quan hệ gần gũi thân thiết. Mỗi Quỹ TDND là một đơn vị độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, là nơi thực hiện mọi giao dịch giữa khách hàng và các thành viên. Thứ hai: Quỹ TDND là loại hình tổ chức và hoạt động theo mô hình kinh tế hợp tác với mục tiêu là hỗ trợ thành viên về vấn đề dịch vụ tín dụng, ngân hàng.
Đây là mục tiêu chủ yếu của Quỹ TDND, không theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận mà mục tiêu của họ là tối đa hóa lợi ích của các thành viên. Mặt khác thành viên vừa là chủ sở hữu vừa là khách hàng do đó cần phải đảm bảo bình đẳng giữa họ. Quỹ TDND phải được tổ chức và hoạt động theo mô hình HTX để thành viên trong quỹ đều được tham gia quản lý, giám sát. Quỹ TDND do các thành viên cùng nhau tham gia góp vốn để được cung cấp các dịch vụ thuận tiện nhất chính vì thế việc hỗ trợ thành viên trong lâu dài phải được đặt lên hàng đầu cùng với chất lượng tốt hơn, chi phí, lãi suất hợp lý hơn.
Để thực hiện được các mục tiêu trên, Quỹ TDND phải tạo ra được các dịch vụ tín dụng ngân hàng, đáp ứng được các dịch vụ này cho các thành viên và đảm bảo được hoạt động lâu dài. Muốn thực hiện được điều đó, Quỹ TDND cần định hướng thực hiện đồng thời ba mục tiêu hoạt động, phải luôn đảm bảo khả năng chi trả, an toàn và phải sinh lời. Các mục tiêu này phải gắn kết chặt chẽ, có quan hệ khăng khít với nhau, hỗ trợ, thúc đẩy lẫn nhau. Thứ ba: Quản lý và điều hành hoạt động của Quỹ TDND phải tuân theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, bình đẳng, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, các thành viên được tham gia quản lý, dân chủ bàn bạc, đóng góp ý kiến để xác định mục tiêu, phương hướng hoạt động, chiến lược phát triển và các quyết định cụ thể phù hợp với thực tế của đơn vị mình [21].
Cán bộ của Quỹ TDND là những người ở tại địa phương hoạt động tại chỗ, đã quen với phong tục tập quán, hiểu rõ về khách hàng, thành viên nắm bắt 11 nhanh được chủ trương, chính sách đầu tư phát triển kinh tế tại địa phương đó nên thuận lợi hơn nhiều so với các tổ chức tín dụng khác trên cùng địa bàn. Thứ tư: Địa bàn hoạt động bị giới hạn, quy mô hoạt động nhỏ thường bó hẹp hơn so với các loại hình TCTD khác, chủ yếu được thành lập ở các vùng nông thôn [34]. Thứ năm: Hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân thường gặp rủi ro, nguyên nhân là do nguồn vốn cho vay chủ yếu là hộ nông dân sản xuất kinh doanh phụ thuộc nhiều vào thời tiết, thiên tai… Cùng với quy mô nhỏ lẻ, trình độ hạn chế nên thường xuyên đối mặt với mất mát rủi ro. Đồng thời đây lại là một lĩnh vực kinh tế vô cùng nhạy cảm rất dễ gây ảnh hưởng xấu đến toàn bộ hệ thống tín dụng liên quan.
Nguyên tắc hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân Quỹ TDND là loại hình tổ chức tín dụng hợp tác hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên, nhằm phát huy sức mạnh của tập thể và của từng thành viên giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống [39]. Quỹ tín dụng nhân dân là một tổ chức kinh tế hợp tác do các thành viên tự nguyện thành lập để hỗ trợ các thành viên được tiếp cận với các dịch vụ tài chính, Ngân hàng một cách thuận tiện với giá cả hợp lý để nâng cao hiệu quả cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống cho thành viên. Vì vậy, các thành viên đều có thể tự nguyện gia nhập hoặc ra khỏi Quỹ TDND theo quy định tại Điều lệ của Quỹ TDND. QTDND hoạt động với mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống [21].
Để đảm bảo mục tiêu tương trợ đối với mọi thành viên thông qua các hoạt động kinh tế chung thì QTDND phải thực hiện quản lý dân chủ và bình 12 đẳng. Với nguyên tắc này mọi thành viên đều có quyền tham gia quản lý, kiểm tra, giám sát QTDND và có quyền ngang nhau trong biểu quyết các vấn đề của QTDND mà không phụ thuộc vào số vốn góp nhiều hay ít. So với TCTD khác QTDND là một loại hình tổ chức kinh tế dân chủ rất đặc thù, thành viên vừa là những người đồng chủ sở hữu lại vừa là khách hàng (đây chính là khác biệt căn bản nhất của loại hình QTDND với các loại hình TCTD khác). QTDND là một tổ chức kinh tế tập thể do các thành viên tự nguyện góp vốn thành lập nhằm mục tiêu hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành viên [21].
Vì vậy, QTDND cũng phải tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh, dịch vụ; tự quyết định về phân phối thu nhập, bảo đảm QTDND và thành viên cùng có lợi. Chỉ khi tôn trọng, được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm, thì mới đảm bảo được lợi ích của cả tổ chức hợp tác lẫn lợi ích của thành viên và có khả năng đứng vững trong cơ chế thị trường. Mục tiêu chủ yếu của Quỹ TDND là tương trợ, tạo điều kiện thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống cho thành viên. Nên trong quá trình hoạt động, các Quỹ TDND vừa phải đảm bảo trang trải chi phí đủ để có tích luỹ và phát triển, hỗ trợ thành viên được lâu dài với hiệu quả ngày càng cao.
Để có thể ổn định và phát triển lâu dài Quỹ TDND cũng cần phải xử lý hài hòa giữa lợi ích của từng thành viên, lợi ích tập thể và của tất cả các thành viên.