CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ 1.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG MUA BÁN NỢ 1.1 Khái niệm mua bán nợ Trong tiếng anh hoạt động mua bán nợ được gọi là ‘’factoring’’. Từ “factor” bắt nguồn từ “factare” trong tiếng Latinh, có nghĩa là “thực hiện” hay “làm”. Công cụ tài chính này xuất hiện từ thế kỷ 18 trước Công nguyên ở Babilonia dưới thời vua Hammurabi và là một phần của những giao dịch mua bán vải vóc trên con đường tơ lụa năm xưa. Khái niệm mua bán nợ phát triển liên tục và ngày nay đã trở nên quen thuộc trong kinh doanh, thương mại, tài chính ngân hàng hay xuất nhập khẩu.
Theo từ điển kinh tế (Dictionary of Economic – Christopher Pass & Bryan Lones): “Mua bán nợ là một sự dàn xếp tài chính, qua đó một công ty tài chính chuyên nghiệp (công ty mua nợ - factor firm) mua lại các khoản nợ của một công ty với số tiền ít hơn giá trị của khoản nợ đó. Lợi nhuận phát sinh từ sự chênh lệch giữa tiền thu được của số nợ đã mua và giá mua thực tế của món nợ đó. Lợi ích của công ty bán nợ là nhận được tiền ngay thay vì phải chờ đến lúc con nợ trả nợ, hơn nữa lại tránh được những phiền toái và các chi phí trong việc theo đuổi các con nợ chậm trả”. Theo từ điển thuật ngữ Ngân hàng – Hans Klaus thì “Mua bán nợ là một loại hình tài trợ dưới dạng tín dụng chuyển nhượng nợ.
Một công ty chuyển toàn bộ hay một phần khoản nợ cho một công ty tài chính chuyên nghiệp (công ty mua nợ, thông thường là một công ty trực thuộc ngân hàng). Công ty này đảm nhận việc thu các khoản nợ và theo dõi các khoản phải thu để hưởng thủ tục phí và có lúc ứng trước các khoản nợ. Thông thường, công ty mua nợ phải chịu rủi ro mất khả năng thanh toán của món nợ”. 2 Tiến sĩ kinh tế Edward W.
Reed và Edward K. Gill cho rằng: “Mua bán nợ là việc mua lại các khoản nợ. Các công ty mua nợ mua các khoản nợ của khách hàng trên cơ sở không truy đòi và tiến hành một số dịch vụ khác ngoài việc ứng trước các khoản nợ. Công ty mua nợ đánh giá mức tín dụng trong hiện tại và tương lai của khách hàng (người bán) và xác lập các hạn mức tín dụng ứng trước.
Các khách hàng được yêu cầu gửi trực tiếp cho công ty mua nợ bản sao hoá đơn. Khoản ứng trước thường từ 80% - 90% trị giá hoá đơn. Khoản dự trữ 10% - 20% được công ty mua nợ giữ lại để phòng ngừa hàng trả lại, hàng giao thiếu, hoặc các yêu cầu khác của người mua. Thường thường vào cuối tháng, công ty mua nợ tính toán mức phí thu được trên số dư trên các khoản nợ chưa thu và cấp thêm vốn cho khách hàng”.
Qua các khái niệm về mua bán nợ trên đây, chúng ta có thể hiểu: Mua bán nợ là việc chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ khoản nợ trên cơ sở hợp đồng mua, bán nợ, trong đó bên bán nợ chuyển giao quyền chủ nợ tương ứng cho bên mua nợ và nhận thanh toán từ bên mua nợ. Bên mua nợ đảm bảo việc thu nợ, tránh các rủi ro về không trả nợ hoặc không có khả năng trả nợ của người mua. Bên mua nợ có thể trả trước thời hạn toàn bộ hay một phần các khoản nợ của người mua cùng với một khoản hoa hồng tài trợ và phí thu nợ. Mọi rủi ro không thu được đều do người tài trợ gánh chịu.
Từ đó hình thành một quan hệ tài chính liên quan tới ba bên gồm bên mua nợ (ngân hàng, tổ chức tài chính, công ty mua nợ), người bán hàng hoá hay cung ứng dịch vụ và người mua hàng hoá hay nhận dịch vụ. Ngoài ra, hoạt động mua bán nợ có thể biến hoá thành một số dịch vụ phụ như quản lý tài khoản phải thu của khách hàng, cung cấp các thông tin kinh tế, tiền tệ, tín dụng và thương mại nhằm tăng thu và giữ tốt mối quan hệ bạn hàng lâu dài.2 Sự ra đời của hoạt động mua bán nợ Trong thời đại ngày nay, kinh doanh ngày một phát triển kéo theo sự đa dạng cũng như mức độ phức tạp của mối quan hệ Ngân hàng - Người vay. Không một doanh 3 nghiệp nào tránh khỏi những khoản nợ phát sinh, và điều này đã trở thành một yếu tố tất nhiên trong các hoạt động kinh doanh thường nhật của doanh nghiệp. Các công ty có thể vay vốn từ nhiều nguồn khác nhau để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình, nhưng vào lúc đó thì tình trạng nợ khó đòi đã trở thành một vấn đề nan giải đối với nhiều doanh nghiệp chủ nợ.
Nhiều công ty đang phải đối mặt với mức độ rủi ro tín dụng rất cao, trong đó rủi ro về tổn thất nợ khó đòi là một trong những nhân tố cần được kiểm soát chặt chẽ. Không ít trường hợp, tổn thất do các khoản nợ bị "ngâm" của các công ty liên tục gia tăng, làm suy giảm năng lực cạnh tranh, thậm chí dẫn tới nguy cơ phá sản. Khó khăn nào cũng sẽ có hướng giải quyết. Trong bối cảnh đó, hoạt động mua bán nợ trở thành vị cứu tinh khi nó có thể giải quyết được tình trạng bế tắc về nợ nần, giúp công ty chủ nợ thu hồi vốn để hoạt động.
Thường thì trước những khoản nợ xấu khó có khả năng thu hồi được vốn đa số thường nghĩ rằng sẽ bị mất trắng khoản tiền này, may ra thì cũng chỉ thu hồi được một chút nhưng không đáng kể. Vậy nhưng những khoản nợ đó lại đang trở thành những cơ hội làm ăn của một loại hình kinh doanh đặc biệt “Mua bán nợ”.3 Các phương thức mua bán nợ Các bên mua bán nợ được lựa chọn một trong hai phương thức sau: Phương thức mua bán nợ thông qua đấu giá các khoản nợ thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản. Phương thức mua bán nợ thông qua đàm phán trực tiếp giữa bên bán nợ và bên mua nợ hoặc thông qua môi giới. Trong việc mua bán nợ này, giá mua nợ, bán nợ là do các bên thỏa thuận trực tiếp hoặc thông qua bên môi giới.
Riêng đối với các khoản nợ thuộc nhóm 1 theo quy định hiện hành của cơ quan chủ quản về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng thì giá mua, bán 4 nợ không được thấp hơn giá trị khoản nợ được mua, bán. Đồng thời, giá mua bán nợ là giá mua cao nhất trong trường hợp khoản nợ được bán theo phương thức đấu giá.4 Nguyên tắc mua bán nợ Bảo đảm công khai, minh bạch và phản ánh đúng thực trạng khoản nợ. Các bên liên quan đến giao dịch mua, bán nợ phải tự chịu trách nhiệm trong các quyết định liên quan đến giao dịch mua, bán nợ. Đảm bảo an toàn hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, phù hợp với quy định của pháp luật.
Đảm bảo sự thỏa thuận và tự nguyện giữa bên mua nợ và bên bán nợ, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia mua, bán nợ. Việc chuyển giao khoản nợ được mua, bán được tiến hành đồng thời với việc chuyển giao các nghĩa vụ của bên nợ và các bên có liên quan đến khoản nợ (kể cả các quyền gắn liền với các bảo đảm cho khoản nợ) từ bên bán nợ sang bên mua nợ. Việc mua bán nợ có liên quan tới các tổ chức, cá nhân nước ngoài và thanh toán bằng ngoại tệ thì các bên mua, bán nợ phải chấp hành các quy định của pháp luật hiện hành về quản lý ngoại hối và các quy định liên quan khác của pháp luật. Một khoản nợ có thể được bán một phần hoặc toàn bộ, bán cho nhiều bên mua nợ và có thể được mua bán nhiều lần.
Trường hợp mua, bán nợ lại các khoản nợ đã được mua, bán, thì mỗi lần mua, bán đều phải lập và ký kết hợp đồng mua, bán nợ.5 Các bước trong một quá trình thực hiện mua bán nợ Không có một quá trình cụ thể cho một hoạt động mua bán nợ vì quá trình thực hiện này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: bản chất của giao dịch, hoạt động kinh doanh của bên mua và bên bán và các yếu tố khác, cần phải được xem xét từ khía cạnh 5 của luật cạnh tranh (như các vấn đề liên quan đến tập trung kinh tế) và luật chứng khoán (nghĩa vụ công bố thông tin). Khi xem xét các bước trong từng giai đoạn của quá trình mua bán nợ, nhìn dưới góc độ của người mua và người bán, thì cần phải hiểu được mong đợi của cả người mua và người bán khi tham tham gia vào quá trình này: Với người bán: Ưu tiên chính là bán nợ và bán cho người mua có khả năng tiếp tục duy trì hoạt động của DN một cách hiệu quả nhất, tạo ra những khoản đầu tư phù hợp với công việc kinh doanh và giữ được nguồn nhân lực hiện có. Với người mua: Ngoài lý do chiến lược, còn là để mua nợ với mức giá đúng với giá trị của nó, mức giá này giúp bên mua tạo ra lợi nhuận trong dài hạn cho một khoản đầu tư chiến lược hoặc trong ngắn hạn cho một khoản đầu tư tài chính. Do đó, bên mua luôn quan tâm đến việc làm thế nào để giảm đi những thông tin bất cân xứng giữa người mua và người bán, và gia tăng tính minh bạch cho toàn bộ quá trình.
Mục tiêu của hoạt động mua bán nợ là tối thiểu hóa tổn thất rủi ro do các khoản nợ quá hạn mang lại, kinh doanh thu lợi nhuận và thực hiện các mục tiêu xã hội. Do hoạt động mua bán nợ còn khá mới mẻ ở VN, nên việc xây dựng một quy trình mua bán nợ gặp khá nhiều khó khăn, làm sao cho quy trình có thể phù hợp với thực tế ở VN, sau đây là 3 giai đoạn cơ bản trong hoạt động mua bán nợ: Hoạt động mua nợ: Hàng hóa của các công ty mua bán nợ chủ yếu là các khoản nợ có vấn để của các ngân hàng và tài sản tồn đọng của DN bao gồm cả tài sản và quyền sử dụng đất được sử dụng để bảo đảm cho các khoản nợ. Tiếp nhận để xử lý các khoản nợ và tài sản đã loại trừ không tính vào giá trị DN khi thực hiện chuyển đổi sở hữu.