Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng phát triển cho vay đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - chi nhánh huyện Kim Thành Hải Dương II giai đoạn 2018 - 2020 Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển cho vay đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - chi nhánh huyện Kim Thành Hải Dương II. 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Ngân hàng thƣơng mại và hoạt động cho vay các doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.
hái ni m về n n h n th n m i, các ho t độn c b n của n nh n th n m i Ngân hàng thương mại (NHTM) đã tồn tại và phát triển hàng trăm năm cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá. Sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại đã có tác động to lớn và quan trọng đến sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại, khi nền kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất thì nền kinh tế thị trường, các ngân hàng thương mại ngày càng hoàn thiện và trở thành một phần không thể thiếu. Theo luật các Tổ chức tín dụng 2010 sửa đổi năm 2017 “Ngân hàng thương mại là loại hình Ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Trong đó, “hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”, cụ thể: - Hoạt động nhận tiền gửi: Vốn huy động chiếm phần lớn trong tổng nguồn vốn và tài trợ cho các hoạt động chủ yếu của NHTM.
NHTM được phép huy động chủ yếu tiền gửi rộng rãi từ các tổ chức, cá nhân và các TCTD khác dưới hình thức thiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn và các loại tiền gửi khác. NHTM còn sử dụng các công cụ như phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, giấy tờ có giá để huy động vốn từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. - Hoạt động cấp tín dụng. Hoạt động tín dụng là hoạt động lâu đời nhất và quan trọng nhất của Ngân hàng thương mại.
Hoạt động tín dụng đem lại nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng nhưng đồng thời cũng chứa đựng nhiều rủi ro. Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định. Ngân hàng thương mại được cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, bảo 10 lãnh, chiết khấu giấy tờ có giá, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước như bao thanh toán, tài trợ nhập khẩu, tài trợ xuất khẩu,… Tuy nhiên hoạt động cho vay là cơ bản và chiếm tỷ trọng lớn nhất. - Hoạt động dịch vụ, thanh toán và ngân quỹ.
Hoạt động thanh toán bao gồm thanh toán giữa Ngân hàng với khách hàng và giữa các Ngân hàng thương mại với nhau thông qua Ngân hàng Nhà nước. Các Ngân hàng thương mại được phép mở tài khoản cho khách hàng, thực hiện các thanh toán của khách hàng thông qua việc điều chỉnh số dư tài khoản. Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ của Ngân hàng thương mại bao gồm các hoạt động cung cấp dịch vụ thanh toán, thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng, các dịch vụ thu hộ và chi hộ, các dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng, đồng thời Ngân hàng thương mại cũng thực hiện các dịch vụ thanh toán quốc tế khi Ngân hàng Nhà nước cho phép. Bên cạnh đó các Ngân hàng thương mại được mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước và tham gia vào hệ thống thanh toán liên ngân hàng trong nước và tham gia hệ thống thanh toán quốc tế theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa DNNVV là loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất ở hầu hết các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam, sự phổ biến thể hiện ở số lượng lớn và/hoặc tỷ trọng lớn trong nền kinh tế. Hiện tại chưa có định nghĩa thống nhất trên toàn thế giới về mọi hình doanh nghiệp này, mỗi quốc gia đưa ra định nghĩa theo phương pháp liệt kê các tiêu chí khác nhau. Tuy nhiên, số lượng lao động, quy mô vốn chủ sở hữu, quy mô tổng tài sản, doanh thu,… là các tiêu chí phổ biến được các nước chấp nhận và sử dụng để phân loại doanh nghiệp.
Nhìn chung, DNNVV là doanh nghiệp có quy mô nhỏ về mặt vốn, lao động hoặc doanh thu: Theo Ngân hàng thế giới DNNVV gồm doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp siêu nhỏ, trong đó: doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 200 người và nguồn vốn 20 tỷ trở xuống, còn doanh nghiệp vừa có từ 200 đến 11 300 lao động nguồn vốn 20 đến 100 tỷ. Theo quan niệm của Liên minh châu Âu (EU), tại khuyến nghị số 2003/361/EC của Ủy ban đưa ra 02 tiêu chí: (i) quy mô doanh nghiệp; và (ii) các nguồn lực khác của doanh nghiệp. Theo đó, DNNVV bao gồm doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ có dưới 10 lao động và hạn mức tài chính (doanh thu hoặc tổng tài sản) từ 2 triệu Euro trở xuống, DN nhỏ có từ 10 đến dưới 50 lao động và hạn mức tài chính từ trên 2 triệu đến 10 triêu Euro, DN vừa có từ 50 đến dưới 250 lao động và hạn mức doanh thu từ trên 10 đến 50 triêu Euro hoặc tổng tài sản từ trên 10 đến dưới 43 triệu Euro. Tại Việt Nam, ngày 11/3/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 39/2018/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thay thế cho Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 về việc trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy định về DNNVV.
Nghị định này định nghĩa “Doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa.” đồng thời đưa ra các tiêu chí phân loại doanh nghiệp khá giống với quy định của Uỷ ban Châu Âu EU, đó là số lượng lao động và tổng doanh thu hoặc nguồn vốn (Bảng 1. Trong đó, số lượng lao động là lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm của doanh nghiệp; Tổng doanh thu của năm là tổng doanh thu bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp và được xác định trên Báo cáo tài chính của năm trước liền kề mà doanh nghiệp nộp cho cơ quan quản lý thuế. Tổng nguồn vốn được xác định trong bảng cân đối kế toán thể hiện trên Báo cáo tài chính của năm trước liền kề mà doanh nghiệp nộp cho cơ quan quản lý thuế. Như vậy doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam được hiểu là doanh nghiệp có số lượng lao động không quá 200 người, quy mô doanh thu không quá 300 tỷ đồng hoặc nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng tuỳ từng lĩnh vực theo quy định tại Nghị định số 39/2018/NĐ-CP.1: Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản Thƣơng mại, dịch vụ và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng Chỉ tiêu/ Doanh Doanh Doanh Doanh Doanh Doanh lĩnh vực nghiệp nghiệp nghiệp nghiệp nghiệp nghiệp siêu nhỏ nhỏ vừa siêu nhỏ nhỏ vừa Số lao đọng tham gia bảo Không quá Không quá Không quá Không quá Không quá Không quá hiểm xã 10 người 100 người 200 người 10 người 50 người 100 người hội bình quân năm Tổng Không quá Không quá Không quá Không quá Không quá Không quá doanh thu 200 tỷ 100 tỷ 300 tỷ 3 tỷ đồng 50 tỷ đồng 10 tỷ đồng của năm đồng đồng đồng Tổng Không quá KHông Không quá Không quá Không quá Không quá nguồn vốn 100tỷ quá 50 tỷ 100 tỷ 3 tỷ đồng 20 tỷ đồng 3 tỷ đồng đồng đồng đồng (Nguồn: Nghị định 39/2018/NĐ-CP của Chính phủ) Cho vay là hoạt động cấp tín dụng truyền thống và cơ bản, quan trọng nhất của Ngân hàng thương mại, đây là hoạt động mang lại biên lợi nhuận cao và đóng góp tỷ trọng lớn nhất vào doanh thu của các Ngân hàng thương mại.
Theo Điều 2 - Thông tư 39/2016/TT-Ngân hàng Nhà nước quy định về hoạt động cho vay của các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng ngày 30/12/2016: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó TCTD giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” Theo khái niệm trên, cho vay không đồng nhất với tín dụng mà chỉ là một hình thức cấp tín dụng. Về mặt tài chính, tín dụng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu cho người sử dụng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định. 13 Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng được phép cho tiến hành hoạt động cho vay theo Luật định; khách hàng vay vốn tại Ngân hàng thương mại khá đa dạng bao gồm pháp nhân được thành lập và hoạt động tại Việt Nam, pháp nhân được thành lập ở nước ngoài và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam; cá nhân có quốc tịch Việt Nam, cá nhân có quốc tịch nước ngoài. Như vậy, theo quan điểm của tác giả, cho vay DNNVV có thể được hiểu là hình thức cấp tín dụng theo đó, NHTM giao hoặc cam kết giao cho DNNVV một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.