Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Tánh Linh, Bình Thuận Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng tại ngân hàng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Tánh Linh, Bình Thuận. Đóng góp của đề tài Dựa trên kết quả phân tích và đánh giá thực trạng kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng tại Agribank chi nhánh huyện Tánh Linh, Bình Thuận, luận văn sẽ đề xuất một số giải pháp và kiến nghị thích hợp để hạn chế rủi ro trong cho vay tiêu dùng tại Agribank chi nhánh huyện Tánh Linh, Bình Thuận trong thời gian tới. Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu 8. Nghiên cứu nước ngoài Akwaa-Sekyi và cộng sự (2016) đã xem xét tính hiệu quả của các hệ thống kiểm soát nội bộ, tìm hiểu các ngân hàng Tây Ban Nha trước những nguy cơ vỡ nợ do hệ thống kiểm soát nội bộ và thiết lập mối quan hệ giữa kiểm soát bội bộ và rủi ro tín dụng.
Tác giả dùng phương pháp nghiên cứu định lượng để kiểm tra các giả thuyết về mối quan hệ giữa kiểm soát bội bộ và rủi ro tín dụng giữa các ngân hàng ở Tây Ban Nha. Kết quả cho thấy các hệ thống kiểm soát đã được đưa ra nhưng hiệu quả không đảm bảo. Điều này làm cho các ngân hàng Tây Ban Nha niêm yết đến các tình huống mặc định nghiêm trọng. Kiểm soát nội bộ không hiệu quả dẫn đến rủi ro tín dụng, đóng cửa ngân hàng và mất các khoản đầu tư.
Xã hội sẽ chịu tổn thất rất nhiều từ những mất mát này. Nghiên cứu này mở ra và bổ sung một khía cạnh mới của kiểm soát nội bộ không chỉ được coi là vấn đề rủi ro hoạt động mà còn rủi ro tín dụng. Nghiên cứu trong nước Nguyễn Thị Duy Hiền (2017), phân tích đánh giá, thực trạng hoạt động kiểm soát rủi ro trong cho vay tiêu dùng của Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam – CN Đà Nẵng. Đề tài đã hệ thống hoá những lý luận cơ bản về kiểm soát RRTD trong cho vay tiêu dùng, đánh giá được thực trạng hoạt động kiểm soát RRTD của chi nhánh, từ đó đề xuất được một số giải pháp để hoàn thiện hoạt động này.
Tuy nhiên, đối với mỗi ngân hàng thì thực tế công tác quản trị, kiểm soát RRTD trong cho vay khác nhau do đặc điểm thực tiễn phát sinh tại mỗi đơn vị cũng khác nhau. Luận văn này sẽ nghiên cứu kế thừa và phát triển cho phù hợp với thực tiễn tại Ngân hàng Agribank Chi nhánh Tánh Linh, Bình Thuận. Lê Thị Hạnh (2017), trong tạp chí đã chỉ ra được những kết quả đạt được khi một số ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam triển khai áp dụng Hiệp ước Basel II trong quản trị rủi ro tín dụng như nâng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR), tăng cường chỉ tiêu đo lường khả năng thanh khoản, mức dự phòng rủi ro và tổn thất rủi ro. Bên cạnh đó, cũng đưa ra những hạn chế còn tồn tại như: quy trình cấp 6 tín dụng còn bất cập, hệ thống đo lường rủi ro tín dụng chưa đồng bộ và sau đó tìm ra nguyên nhân của những hạn chế đó và đề xuất bốn giải pháp nhằm tăng cường hoạt động quản trị rủi ro tín dụng trong kinh doanh.
Bốn giải pháp đó bao gồm: Giải pháp thứ nhất: tăng cường hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ trong quản trị rủi ro tín dụng; giải pháp thứ hai: tăng cường năng lực tài chính; giải pháp thứ ba: xử lý các tồn đọng về tài chính; và giải pháp thứ tư: cải tiến quy trình quản trị rủi ro tín dụng. Nguyễn Thị Loan (2012) thông qua số liệu và thực trạng về tăng trưởng tín dụng, lợi nhuận, tỷ lệ nợ xấu, hệ số CAR, của các hệ thống NHTM và một số NHTM được lựa chọn đã phân tích rõ một số ưu điểm, hạn chế về hoạt động quản trị rủi ro nói chung và quản trị rủi ro tín dụng của NHTM nói riêng, đề xuất 3 nhóm giải pháp theo mục tiêu nghiên cứu. Bài viết tập trung là từ năm 2010 trở về trước, về không gian nghiên cứu tất cả các NHTM, không chuyên sâu về quản trị rủi ro tại một NHTM trong giai đoạn hiện nay. Bùi Duy Chinh (2018), đã khái quát được các nội dung trong qua trình quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng trong các ngân hàng thương mại nói chung và tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội nói riêng, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản trị rủi ro cho vay tiêu dùng tại Agribank - Chi nhánh Bắc Hà Nội.
Các giải pháp như: Xây dựng và hoàn thiện mô hình tổ chức phòng ban theo định hướng quản lý rủi ro tín dụng; xây dựng chiến lược quản trị rủi ro tín dụng và chính sách tín dụng hợp lý đối với cá nhân vay tiêu dùng; nâng cao năng lực trình độ cán bộ và triển khai thực hiện quy trình cho vay tốt hơn. Thảo luận các nghiên cứu trước Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu này thường được thực hiện cho cả hệ thống NHTM hoặc được nghiên cứu cho từng NH cụ thể. Kết quả của các nghiên cứu trên đây đã nêu ra được mặt ưu và nhược điểm trong công tác kiểm soát RRTD của NH và đề xuất các giải pháp nhằm kiểm soát, hạn chế và xử lý RRTD, các nghiên cứu cũng nêu ra được tầm quan trọng trong việc ra quyết định của nhà quản lý trong 7 kiểm soát RRTD, giúp các NH kiểm soát RRTD tốt hơn. Tuy nhiên, đối với mỗi ngân hàng thì thực tế công tác quản trị, kiểm soát RRTD trong cho vay khác nhau do đặc điểm thực tiễn phát sinh tại mỗi đơn vị cũng khác nhau.
Ngoài ra, trong thời gian gần đây, tại Agribank chi nhánh Tánh Linh, Bình Thuận vấn đề kiểm soát RRTD trong cho vay tiêu dùng cũng chưa có công trình khoa học nào thực hiện nghiên cứu và chưa tìm thấy nghiên cứu dạng giải quyết vấn đề cho trường hợp Agribank Tánh Linh, Bình Thuận với thời gian cập nhật trong giai đoạn 5 năm gần nhất. Vì thế, việc nghiên cứu về công tác kiểm soát RRTD trong cho vay tiêu dùng tại Agribank chi nhánh Tánh Linh, Bình Thuận là hết sức cần thiết, giúp cho ngân hàng hoạt động an toàn, lành mạnh và có hiệu quả hơn. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại 1.
Khái niệm Cho vay là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, các tổ chức và cá nhân được thực hiện dưới hình thức NHTM đứng ra huy động vốn bằng tiền và cho vay đối với các đối tượng nói trên. Có nhiều cách tiếp cận khái niệm cho vay tiêu dùng. Theo Nguyễn Đăng Dờn (2014) “Cho vay tiêu dùng là hình thức cấp tín dụng, trong đó NHTM thoả thuận để khách hàng là cá nhân hay hộ gia đình sử dụng một khoản tiền với mục đích tiêu dùng, trên nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi trong một thời gian nhất định”. Hồ Diệu và cộng sự (2008), cho vay tiêu dùng được hiểu là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình.
Theo Tô Ngọc Hưng (2014) “cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình”. Như vậy, cho vay tiêu dùng là khoản cho vay của các NHTM đến đối tượng khách hàng cá nhân và hộ gia đình để trang trải cho các mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của bản thân và của gia đình. Đặc điểm Cho vay tiêu dùng có các đặc điểm: Phục vụ cho đối tượng khách hàng cá nhân và hộ gia đình. Mục đích cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.
Cho vay tiêu dùng có tính nhạy cảm theo chu kỳ của nền kinh tế cao. Trong thời kỳ kinh tế tăng trưởng tốt và ổn định, thu nhập của người dân cũng được cải thiện, họ sẽ thoải mái mua sắm, vì vậy, nhu cầu tiêu dùng sẽ tăng lên và ngược lại, 9 khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, tâm lý chung của họ là lo lắng về cuộc sống tương lai, do đó, việc tiêu dùng, mua sắm sẽ phải hạn chế tối đa, đồng thời hoạt động vay tiêu dùng sẽ giảm đi rất nhiều. Quy mô cho vay tiêu dùng nhỏ nhưng số lượng món vay thì rất lớn. Hầu hết các khoản vay tiêu dùng đều có giá trị không lớn trừ những khoản vay để mua đất, mua nhà nhưng vì nhu cầu tiêu dùng, mua sắm của khách hàng ngày càng tăng nên số lượng món vay tiêu dùng là rất lớn.
Rủi ro trong cho vay tiêu dùng thường cao, nguồn trả nợ không ổn định, phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Vì nguồn trả nợ là thu nhập thường xuyên của người vay, mà nhưng khoản thu nhập này phụ thuộc vào công việc và sức khỏe của người vay. Do đó, khi mất việc hoặc ốm đau, tai nạn người vay khó có thể trả nợ được. Bên cạnh đó, việc thẩm định khả năng trả nợ của khách hàng cũng khá khó khăn vì chỉ có thể dựa vào tài sản cá nhân, lương và các khoản thu nhập khác.
Chất lượng thông tin khách hàng cung cấp không cao. Để có được khoản vay, khách hàng có thể giấu thông tin về tình hình công việc trong tương lai, sức khỏe của mình nên các ngân hàng rất khó xác định được rủi ro khi cho vay tiêu dùng. Lãi suất của khoản cho vay tiêu dùng cao. Quy mô các khoản vay thường nhỏ dẫn đến chi phí để cho vay cao, do vậy lãi suất CVTD thường cao hơn so với lãi suất các loại cho vay trong các lĩnh vực khác.
Hơn nữa CVTD còn được cho là tiềm ẩn nhiều rủi ro nên phần bù rủi ro cũng khá cao. Vì thế mà lãi suất CVTD thường cao và cố định. Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại 1.