Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Phân tích thực trạng hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại ngân 3 hàng Sài Gòn Công thương Chi nhánh Cần Thơ Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 4 Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan về tín dụng và rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân a. Khái niệm tín dụng Tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái, kinh tế - xã hội từ thời kỳ chế độ công xã nguyên thủy đến chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, tín dụng được thực hiện dưới hình thức vay mượn bằng hiện vật, về sau với sự phát triển của xã hội và nền kinh tín dụng đã chuyển sang hình thức vay mượn bằng tiền tệ. Hồ Diệu (2003) định nghĩa tín dụng ngân hàng là một giao dịch vay mượn tài sản giữa ngân hàng (bên cho vay) và khách hàng (bên đi vay), trong đó bên đi vay được sử dụng tài sản của bên cho vay trong một khoảng thời gian được thỏa thuận trước và phải hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Nói một cách khác, tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sỡ hữu vốn giữa ngân hàng và khách hàng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định.
Theo Luật số 47/2010/QH12 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Trần Huy Hoàng (2011) cho rằng tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế xã hội. Ngày nay tín dụng được hiểu là quan hệ kinh tế được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật, trong đó người đi vay phải trả cho người cho vay cả vốn gốc và lãi sau một thời gian nhất định. Từ các khái niệm trên ta có thể thấy: tín dụng ra đời và tồn tại xuất phát từ đòi hỏi khách quan của quá trình tuần hoàn vốn để giải quyết hiện tượng dư thừa, thiếu hụt vốn diễn ra thường xuyên giữa các chủ thể trong nền kinh tế.
Tín dụng chứa đựng ba yếu tố bao gồm sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang người sử dụng; có một thời hạn nhất định được thống nhất khi thực hiện giao dịch; ngoài trả 5 vốn, người nhận chuyển nhượng còn phải trả lãi hoặc phí. Các hình thức cấp tín dụng NH cung cấp rất nhiều loại tín dụng cho nhiều đối tượng khách hàng khác nhau, việc phân loại tín dụng dựa trên một số tiêu chí nhất định tùy theo mục tiêu quản lý của NH, cụ thể theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 gồm: ❖ Nghiệp vụ cho vay: Đây nghiệp vụ đặc trưng nhất của Ngân hàng. Đây là hình thức tín dụng ngân hàng mà qua đó ngân hàng sẽ tiến hành phân phối có trọng điểm nguồn vốn đã hình thành trong nghiệp vụ huy động, điều tiết vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, bổ sung vốn cho sản xuất kinh doanh. Đối với ngân hàng, đây là nghiệp vụ quan trọng nhất, sử dụng phần lớn nguồn vốn và tạo ra thu nhập chủ yếu.
Dựa vào mục đích sử dụng vốn, nghiệp vụ cho vay được phân chia thành: Cho vay bất động sản, cho vay nông nghiệp, cho vay công nghiệp và bất động sản. Còn nếu căn cứ vào thời hạn cho vay có thể chia thành: Cho vay ngắn hạn, dài hạn và trung hạn… ❖ Nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu: Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán. Tái chiết khấu là việc chiết khấu các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác đã được chiết khấu trước khi đến hạn thanh toán. ❖ Bao thanh toán: là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa đã được bên bán và bên mua hàng thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa.
❖ Bảo lãnh (tái bảo lãnh): là cam kết của NH dưới hình thức thư bảo lãnh về việc sẽ thực hiện các nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của NH khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết. ❖ Cho thuê tài chính: là việc NH bỏ tiền mua sắm tài sản cho KH thuê. Sau một thời gian nhất định KH phải trả cả gốc lẫn lãi cho NH. Khi kết thúc thời hạn thuê, KH được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê lại tài sản đó theo các điều kiện hai bên đã thỏa thuận.
Tín dụng cá nhân Tín dụng các nhân là hình thức tín dụng trong đó ngân hàng thương mại đóng vai trò là người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn cho khách hàng cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định với mục đích phục vụ đời sống hoặc sản xuất kinh doanh. 6 ❖ Đặc điểm của tín dụng cá nhân: Thông thường, tín dụng cá nhân có qui mô khoản vay nhỏ nhưng số lượng vay lớn, điều này do mục đích cho vay cá nhân chủ yếu hỗ trợ hoạt động tiêu dùng và nhu cầu tiêu dùng thì rất lớn. Mặt khác, lãi suất tín dụng cá nhân chưa linh hoạt, thông thường các khoản vay ngắn hạn lãi suất được cố định trong suốt thời gian vay và các khoản vay trung, dài hạn được điều chỉnh theo định kỳ bằng với lãi suất huy động có kỳ hạn cộng biên độ tùy theo từng ngân hàng. Các khách hàng cá nhân thường ít “nhạy cảm” lãi suất , họ quan tâm đến khoản tiền cố định phải trả hàng tháng hơn là mức lãi suất ghi trong hợp đồng.
Theo Đường Thị Thanh Hải (2016) tín dụng cá nhân có chi phí lớn nhất trong danh mục tín dụng của ngân hàng. Bởi quy mô của mỗi khoản vay thường nhỏ thậm chí không đáng kể song số lượng các khoản vay lại rất lớn. Hơn nữa, việc cập nhật các thông tin cá nhân khó có thể đầy đủ và chính xác. Do vậy, ngân hàng phải thực hiện rất nhiều bước trong quá trình cho vay từ lúc tiếp nhận hồ sơ, thẩm định khách hàng, giải ngân cho đến lúc thu hồi nợ.
Do đó rủi ro tín dụng cá nhân cao hơn cho vay doanh nghiệp. Đối với các khoản cho vay kinh doanh, ngân hàng và khách hàng thường có sự thỏa thuận áp dụng mức lãi suất thả nổi, tức là lãi suất được điều chỉnh theo từng kỳ hạn nhất định trong suốt thời hạn cho vay. Vì vậy, nguy cơ rủi ro về lãi suất đối với cho vay kinh doanh sẽ thấp hơn so với cho vay cá nhân Cho vay cá nhân có nguy cơ gặp rủi ro đạo đức. Khả năng hoàn trả vốn vay đối với các khoản cho vay tiêu dùng phụ thuộc vào thu nhập của người đi vay.
Tuy nhiên, đối với những khách hàng cá nhân có thể do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan mà họ không thể thực hiện trả nợ hoặc trì hoãn trả nợ, từ đó gây ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay của ngân hàng. Nhân tố chủ quan có thể là tình trạng “sức khoẻ” tài chính của người đi vay, công việc làm ăn không tốt … ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực tài chính của khách hàng, từ đó giảm khả năng thực hiện trả nợ của khách hàng. Các nhân tố khách quan như hạn hán, mất mùa, sự suy thoái của nền kinh tế dẫn đến khả năng mất việc cao… cũng là những nguy cơ ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả của khách hàng. Lãi suất của các khoản tín dụng cá nhân phần lớn đều cao hơn các khoản tín dụng khác của ngân hàng thương mại NHTM.
Điều này xuất phát từ các khoản tín dụng cá nhân có chi phí cao và rủi ro cao nhất trong các loại cho vay của NHTM. Mức 7 lợi nhuận từ trên mỗi khoản tín dụng cá nhân cao, số lượng lớn, vì vậy toàn bộ lợi nhuận thu về từ hoạt động này là đáng kể trong tổng thu nhập của NHTM. Khái niệm rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân Hoạt động cho vay là hoạt động chủ yếu của NH thương mại, chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng nguồn thu nghiệp vụ và đem lại phần lớn lợi nhuận cho NH. Tuy nhiên, hoạt động cho vay lại là hoạt động có nhiều rủi ro và phức tạp nhất trong các nghiệp vụ NH do hoạt động này có liên quan chặt chẽ đến mọi lĩnh vực của nền kinh tế và rủi ro trong các lĩnh vực này dẫn đến rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động của NHTM Ngô Quang Huân (2007) diễn giải rủi ro theo ý của William, Micheal, và Smith (1995) rằng “Rủi ro có thể gây ra sự biến động tiềm ẩn ở kết quả.
Rủi ro có thể xuất hiện trong hầu hết các hoạt động của con người. Khi có rủi ro người ta không thể dự đoán được chính xác kết quả. Sự hiện diện của rủi ro gây ra sự bất định. Nguy cơ rủi ro phát sinh bất cứ khi nào một hành động dẫn đến khả năng được hoặc mất không thể đoán trước được”.
Như vậy, cách lập luận này cho rằng rủi ro là sự khác biệt giữa giá trị thực tế và giá trị kỳ vọng, lập luận này tạo ra cơ sở để đo lường rủi ro. Theo Christian Bluhm, Ludger Overbeck, và Christoph Wagner (2010), “Rủi ro là sự không chắc chắn gây ra sự mất mát, tổn thất. Rủi ro bao gồm tất cả nguy cơ bất ổn và thiệt hại”. Từ các quan điểm trên, tác giả cho rằng “Rủi ro là sự không chắc chắn có thể đo lường được và gây ra các tổn thất, thiệt hại”.
Rủi ro trong kinh doanh NH mang các đặc trưng chung của rủi ro, đặc trưng riêng của NH, được hiểu là những biến cố không mong đợi, có thể đo lường được mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất cho NH về tài sản hoặc con người, gây ra sự sụt giảm lợi nhuận so với dự kiến hoặc phải bỏ ra một khoản chi phí để hoàn thành một nghiệp vụ tài chính nhất định.