CHƯƠNG 1 L Ý L U Ậ N C H U N G V È C H Ấ T L Ư Ợ N G P H Â N T ÍC H T À I C H ÍN H D O A N H N G H I Ệ P T R O N G H O Ạ T Đ Ộ N G T ÍN D Ụ N G T Ạ I N G Â N HÀNG THƯƠNG M ẠI 1. T ÍN DỤNG VÀ VAI TRÒ CỦA PHÂN T ÍC H T À I C H ÍN H D O A N H N G H I Ệ P T R O N G H O Ạ T Đ Ộ N G T ÍN D Ụ N G T Ạ I N G Â N H ÀNG TH Ư ƠNG M ẠI 1. K h á i n iệ m tín d ụ n g N g â n h à n g Quan hệ tín dụng ra đời và tồn tại xuất phát từ đòi hỏi khách quan của quá trình tuần hoàn vốn để giải quyết hiện tượng dư thừa, thiếu hụt vốn diễn ra thường xuyên giữa các chủ thể trong nền kinh tế. “Tỉieo Mác, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một ỉưcmg giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định lại quay về với một lượng giá trị lớn hom lượng giả trị ban đầu ” [8,tr.
Như vậy phạm trù tín dụng bao gồm ba nội dung chính là: tính chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị, tính thòi hạn và tính hoàn trả. Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (Tiền hoặc hàng hoá) giữa ngân hàng và bên đi vay trong đó ngân hàng sẽ chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán. Từ khái niệm trên, có thể thấy bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả có các đặc điếm cơ bản sau: -Thứ nhất, tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin. Ngân hàng chỉ cấp tín dụng khi có lòng tin vào việc khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích, 10 hiệu quả và có khả năng hoàn trả nợ vay đúng hạn.
- Thứ hai, tín dụng là sự chuyển nhượng một tài sản có thời hạn. Ngân hàng là trung gian tài chính "huy động để cho vay", nên mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều phải có thời hạn, bảo đảm cho ngân hàng hoàn trả vốn huy động. - Thứ ba, tín dụng phải trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Nếu không có sự hoàn trả thì không được coi là tín dụng.
Giá trị hoàn trả giá trị gốc, khách hàng phải trả cho ngân hàng một khoản lãi, đây chính là giá của quyền sử dụng vốn vay. Khoản lãi phải luôn luôn là một số dương, có như vậy mới bù đắp được chi phí hoạt động và tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng, phản ánh bản chất hoạt động kinh doanh của ngân hàng. - Thứ tư, tín dụng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng. Việc thu hồi tín dụng phụ thuộc không những vào bản thân khách hàng, mà còn phụ thuộc vào môi trường hoạt động, ngoài tầm kiểm soát của khách hàng như sự biến động về giá cả, lãi suất, tỷ giá, lạm phát, tăng trưởng kinh tế, thị trường, thiên tai,.Khi khách hàng gặp phải khó khăn do môi trường kinh doanh thay đối, dẫn đến khó khăn trong việc trả nợ, điều này khiến ngân hàng gặp rủi ro tín dụng.
- Thứ năm, tín dụng phải trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện. Quy trình xin vay và cho vay diễn ra trên cơ sở những căn cứ pháp lý chặt chẽ như: hợp đồng tín dụng, khế ước vay tiền, hợp đồng bảo đảm tiền vay, bảo lãnh,., trong đó bên đi vay phải cam kết hoàn trả vô điều kiện khoản vay cho ngân hàng khi đến hạn. P h â n lo ạ i tín d ụ n g N g â n h à n g Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng rất đa dạng và phong 11 phú với nhiều hình thức khác nhau. Đe sử dụng và quản lý tín dụng có hiệu quả phải tiến hành phân loại tín dụng theo những căn cứ nhất định: + T h e o th ờ i h ạ n tín d ụ n g -Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dưới 1 năm - Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm - Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm + T h e o đ ố i tư ợ n g tín d ụ n g - Tín dụng vốn đầu tư tài sản ngắn hạn: Là loại tín dụng được sử dụng để hình thành TSNH của các tổ chức kinh tế.
Nó bao gồm: cho vay dự trữ hàng hoá, cho vay chi phí sản xuất, cho vay để thanh toán các khoản nợ dưới dạng chiết khấu kỳ phiếu. - Tín dụng vốn đầu tư tài sản dài hạn: Là loại tín dụng được sử dụng để hình thành TSDH của các tổ chức kinh tế. + T h e o m ụ c đ íc h s ử d ụ n g v ố n đ ầ u t ư - Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá: Là loại tín dụng cấp cho các nhà doanh nghiệp, các chủ thể kinh doanh để tiến hành sản xuất và lưu thông hàng hóa. - Tín dụng tiêu dùng: Là loại tín dụng cung cấp cho các cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.
+ T h eo m ứ c đ ộ đ ả m b ảo - Tín dụng có đảm bảo: Là loại hình tín dụng có tài sản hoặc người bảo lãnh đứng ra đảm bảo cho khoản nợ vay. - Tín dụng không có đảm bảo: Là loại hình tín dụng không có tài sản hoặc người bảo lãnh đứng ra đảm bảo cho khoản nợ vay. V a i tr ò củ a p h â n tích tà i c h ín h d o a n h n g h iệ p tr o n g h o ạ t đ ộ n g tín d ụ n g tạ i N g â n h à n g th ư ơ n g m ại 1. K h á i n iệ m p h â n tíc h tà i c h ín h d o a n h n g h iệ p Tài chính doanh nghiệp là những quan hệ tiền tệ gắn trực tiếp với việc tổ chức huy động, phân phối, sử dụng và quản lý vốn trong quá trình kinh doanh.
Phân tích tài chính doanh nghiệp là một tập họp các khái niệm, phương pháp và công cụ cho phép thu thập, xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác trong quản lý doanh nghiệp nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp cho người sử dụng thông tin đưa ra những quyết định tài chính, quyết định quản lý phù họp. Khi phân tích tài chính doanh nghiệp, mối quan tâm của các ngân hàng thương mại chủ yếu thường hướng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Vì vậy một mặt họ chú ý đến số lượng tiền và các tài sản có thể chuyển đổi nhanh thành tiền để so sánh với số nợ ngắn hạn để biết khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Mặt khác, các nhà ngân hàng còn chú ý khả năng sinh lời từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đảm bảo hoàn trả các khoản cho vay dài hạn, chú ý đến việc đảm bảo cơ cấu tài chính an toàn trong doanh nghiệp để đề phòng rủi ro.
M ụ c tiêu c ủ a p h â n tíc h tà i c h ín h d o a n h n g h iệ p tr o n g N g â n h à n g th ư ơ n g m ạ i Những người ở những vị trí khác nhau có những mục tiêu khác nhau khi tiến hành phân tích tài chính. Mục đích chính của phân tích tài chính là giúp các đối tượng sử dụng thông tin đánh giá đúng tình hình tài chính, khả năng sinh lời và triển vọng của doanh nghiệp từ đó đưa ra những quyết định phù họp với mục tiêu mà họ quan tâm. Tuy nhiên những báo cáo tài chính - tài liệu phân tích - là những tài liệu mang tính chất lịch sử vì chúng cho biết 13 thông tin của một thời kì nhất định. Do vậy mục đích của phân tích tài chính là giúp đối tượng quan tâm đưa ra quyết định và hành động hợp lí trên cơ sở thông tin mang tính lịch sử của báo cáo tài chính.
Đổi với nhà quản trị phân tích tài chính nhằm đánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, xác định điểm mạnh điểm yếu của doanh nghiệp, đó là cơ sở để định hướng cho các quyết định của ban giám đốc, giám đốc tài chính, dự báo tình hình tài chính, kế hoạch đầu tư, ngân quĩ, và kiểm soát các hoạt động quản lí khác. Mối quan tâm hàng đầu của nhà quản trị là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ để đảm bảo sự tồn tại và phát triến của doanh nghiệp, ngoài ra còn có các mục tiêu khác như tạo công ăn việc làm, nâng cao chất lượng sản phẩm, bảo vệ môi trường. những mục tiêu này chỉ thực hiện được khi doanh nghiệp làm ăn có lãi. Đối với các nhà đầu tư thông qua hoạt động phân tích tài chính, họ có thể thu thập nhưng thông tin về tình hình thu nhập của chủ sở hữu- lợi tức cổ phần và giá trị tăng thêm của vốn đầu tư.
Họ quan tâm tới phân tích tài chính để nhận biết khả năng sinh lãi của doanh nghiệp, rủi ro, khả năng hoàn vốn, mức tăng trưởng hiện tại và tương lai. Đó là một trong những căn cứ giúp họ ra quyết định bỏ vốn vào doanh nghiệp hay không. Đối với người cho vay, cần phân tích tài chính để nhận biết khả năng trả nợ vay của khách hàng, mà chủ yếu là tập trung xem xét luồng tiền tạo ra của doanh nghiệp, các tài sản có khả năng chuyển đổi nhanh thành tiền, vốn chủ sở hữu, tỉ lệ vốn nợ của doanh nghiệp để biết rằng doanh nghiệp có khả năng thanh toán nợ gốc và lãi đúng hạn hay không. Thông thường, ngân hàng thường xem xét tình hình tài chính của khách hàng để trả lời những câu hỏi quan trọng như: khách hàng có đáng tin cậy không?