MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn vấn đề can thiệp Tiên Yên là một huyện nghèo, miền núi, nằm ở trung tâm khu vực Đông Bắc của tỉnh Quảng Ninh, với 50% dân cƣ thuộc nhóm dân tộc thiểu số nhƣ Dao, Sán Chỉ, Tày và Sán Dìu. Tổng diện tích đất của toàn huyện là 617 km2, trong đó 2/3 là đồi núi, 7.628 ha là đất nông nghiệp, 10.997 ha là đất rừng, còn lại là đất sử dụng cho các mục đích khác. Tiên Yên gồm 12 xã, một thị trấn và 120 thôn bản.
Dân số là khoảng gần 45 nghìn ngƣời, trong đó phụ nữ từ 15 – 49 là 10. Tỷ lệ các hộ đói nghèo theo tiêu chí mới (thu nhập bình quân dƣới 400.000đ/ngƣời/tháng, áp dụng đối với vùng nông thôn giai đọan 2011 - 2015, theo QĐ TTCP) tính chung cả huyện là 28,6% nhƣng có sự khác biệt lớn giữa các xã, các thôn trong huyện(Phụ lục 10). Những năm qua, cũng nhƣ nhiều huyện vùng sâu, vùng xa, vùng núi, vùng dân tộc thiểu số khác trong cả nƣớc, Tiên Yên nhận đƣợc nhiều chính sách ƣu đãi của Đảng và Nhà nƣớc nhƣ: các chƣơng trình xóa đói giảm nghèo, chƣơng trình 135, khám và chữa bệnh miễn phí…nhằm phát triển kinh tế, cải thiện đời sống, bảo đảm an sinh xã hội cho ngƣời dân, tuy nhiên đời sống của một bộ phận khá đông ngƣời dân ở Tiên Yên vẫn gặp rất nhiều khó khăn. Hệ thống y tế của Tiên Yên có sự thay đổi về cơ cấu từ đầu năm 2007.
Theo nghị định số: 172 – 2005/ TTg năm 2005, Trung tâm y tế huyện đƣợc chia tách ra thành ba đơn vị, bao gồm: Bệnh viện, Phòng y tế và Trung tâm Y Tế dự phòng. Tất cả 13 xã và thị trấn của huyện Tiên Yên đều có Trạm y tế. Các Trạm y tế đều nằm dƣới sự quản lý trực tiếp của Phòng y tế. Các Trạm y tế xã ở Tiên Yên thƣờng nằm ở vị trí trung tâm địa bàn xã.
Khoảng cách từ các thôn trong xã đến Trạm y tế trung bình khoảng 3 đến 4 giờ đi bộ. Mỗi trạm có 4 -5 cán bộ y tế, cơ cấu gồm 1 đến 2 y sỹ đa khoa, 1 đến 2 điều dƣỡng, 1 nữ hộ sinh. Cả huyện chỉ có 5 Trạm y tế xã có bác sỹ, 6 Trạm y tế xã còn cán bộ y tế có trình độ sơ cấp. Tất cả 120 thôn bản trong huyện đều có y tế thôn bản.
Ngoài việc triển khai các chƣơng trình trình mục tiêu quốc gia nhƣ: Chƣơng trình phòng chống sốt rét, phòng chống bƣớu cổ, vệ sinh an toàn thực phẩm, chƣơng 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trình phòng chống lao, vệ sinh môi trƣờng, y tế học đƣờng, khám chữa bệnh thông thƣờng…, các Trạm y tế còn có nhiệm vụ TTGDSKcho ngƣời dân. Đội ngũ y tế thôn bản của huyện Tiên Yên tuy đông về số lƣợng nhƣng trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhìn chung còn thấp (10% có trình độ sơ cấp, 90% qua đào tạo ngắn hạn hoặc chƣa đƣợc đào tạo). Công việc chủ yếu của họ là hỗ trợ Cán bộTrạm y tế xã trong việc thông báo tới ngƣời dân các chƣơng trình y tế đƣợc triển khai tại địa phƣơng và một số việc đơn giản khác nhƣ ghi chép sổ sách, cân, đo trẻ… Trong những năm gần đây, công tác chăm sóc sức khỏe ngƣời dân ở huyện Tiên Yên nói chung còn rất nhiều hạn chế. Tình trạng trẻ em suy dinh dƣỡng, ô nhiễm môi trƣờng, dịch bệnh lây lan khá phổ biến.
Đặc biệt, hai vấn đề cấp thiết, đe dọa trực tiếp tới sức khỏe và đời sống của phụ nữ huyện Tiên Yên là vấn đề viêm nhiễm đƣờng sinh sản (1176 mắc/1757 khám), chiếm 66,93%, và nạo phá thai (khoảng 700 ca/năm - Số liệu phòng Y tế huyện Tiên Yên, 2009). Theo lãnh đạo Trung tâm y tế huyện Tiên Yên, có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, trong đó, một số nguyên nhân chính đƣợc nêu ra gồm: địa bàn rộng, nhân lực mỏng, năng lực của cán bộ y tế còn nhiều hạn chế, công tác phòng ngừa, truyền thông giáo dục sức khỏe ngƣời dân chƣa đƣợc chú ý đúng mức, chƣa phát huy đƣợc vai trò và khả năng của đội ngũ y tế thôn bản. Trong 10 năm qua, hầu hết các chƣơng trình PTCĐ ở Tiên Yên đều là chƣơng trình của nhà nƣớc, đƣợc triển khai theo cách tiếp cận từ trên xuống (top- down). Các chƣơng trình này đƣợc thiết kế và tổ chức thực hiện theo quan điểm và cách nhìn nhận vấn đề của những ngƣời làm quản lý nhà nƣớc ở tầm vĩ mô hơn là dựa trên nhu cầu thực tế và tiềm năng sẵn có của ngƣời dân địa phƣơng trong việc nhìn nhận, đánh giá và tự giải quyết nan đề của chính họ.
Vì thiếu hụt sự nỗ lực của ngƣời dân và cách tiếp cận vấn đề có tính áp đặt nên mặc dù có sự đầu tƣ lớn, nguồn lực dồi dào nhƣng hiệu quả mang lại từ những chƣơng trình này, theo đánh giá của lãnh đạo và ngƣời dân địa phƣơng, là rất hạn chế. Bởi vì, nó không đảm bảo tính bền vững và đôi khi còn tạo ra tâm lý trông chờ, ỉ lại của ngƣời dân vào những chính sách hỗ trợ của nhà nƣớc. Bên cạnh đó, một số chƣơng trình PTCĐ đƣợc triển khai khá bài bản tại Tiên Yên, theo cách tiếp cận từ dƣới lên (bottom –up) với sự 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giúp đỡ của các tổ chức bên ngoài, có thể kể đến là Dự án “Tăng cường tiếp cận giáo dục có chất lượng cho trẻ em vùng khó khăn ở Việt Nam nhằm giảm bớt khoảng cách và phát triển hội nhập” do Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) và Tổ chức cứu trợ trẻ em Anh (Save Children UK) hỗ trợ. Dự án đƣợc triển khai ở các lớp mầm non tại một số xã, trong khoảng thời gian từ 2006 đến 2009, nhằm mở ra một hƣớng tiếp cận mới trong dạy và học song ngữ (dạy tiếng Việt song song với tiếng mẹ đẻ của học sinh) cho học sinh ngƣời dân tộc thiểu số.
Dự án “Tăng cường dinh dưỡng cho trẻ em miền núi” do Công ty TNHH Tƣ vấn Đầu tƣ Y tế (CIHP) triển khai từ 2005 đến 2007, nhằm nâng cao kiến thức và thực hành của ngƣời dân trong việc cung cấp bữa ăn dinh dƣỡng cho trẻ em dƣới 5 tuổi. Điểm khác biệt lớn nhất trong quan điểm về làm PTCĐ của các tổ chức nêu trên so với cách tiếp cận trong các chƣơng trình của nhà nƣớc là các tổ chức này đã tạo điều kiện tối đa để ngƣời dân địa phƣơng tham gia vào tất cả các khâu trong tiến trình thực hiện, từ phát hiện vấn đề, lập kế hoạch, triển khai hoạt động cho đến giám sát đánh giá kết quả. Bản thân cán bộ, chuyên gia của các tổ chức này không trực tiếp làm giúp ngƣời dân mà họ chỉ đóng vai trò xúc tác và kết nối các nguồn lực để ngƣời dân địa phƣơng có thể phát huy nó một cách hiệu quả nhất. Với cách tiếp cận nhƣ vậy, các tổ chức hỗ trợ không những đạt đƣợc mục tiêu trƣớc mắt mà còn giúp nâng cao năng lực cộng đồng trong việc phát hiện, phòng ngừa và giải quyết những nan đề mà họ gặp phải để tạo ra những thay đổi căn bản theo chiều hƣớng tích cực từ bên trong và mang tính bền vững.
Từ những thông tin ban đầu thu thập đƣợc nhƣ trên, ngƣời thực hiện đề tài này đã xây dựng bản đề xuất ý tƣởng về một can thiệp theo hƣớngPTCĐ để huy động nguồn hỗ trợ từ bên ngoài, sau đó thuyết phục chính quyền địa phƣơng cấp phép và đƣa vào thực hiện, cuối cùng là hoàn thành báo cáo đề tài đáp ứng những yêu cầu của một luận văn Thạc sĩ CTXH theo hƣớng thực hành. Kỳ vọng của tác giả là thông qua đề tài can thiệp này sẽ có cơ hội đƣợc áp dụng những kiến thức, kỹ năng của CTXH đã học đƣợc vào thực tế để giúp cải thiện đời sống của ngƣời dân huyện Tiên. Chủ đề can thiệp về nâng cao năng lực về PTT và VNĐSS chỉ đƣợc xác định sau khi tác giả đã thực hiện hàng loạt nghiệp 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vụchuyên môn CTXH (đƣợc mô tả chi tiết trong phần hoạt động) tại địa bàn, cùng với sự tham gia của ngƣời dân tại cộng đồng. Can thiệp này đƣợc sự hỗ trợ tài chính của tổ chức CORDAID – Hà Lan, do Công ty TNHH Tƣ vấn Đầu tƣ Y tế thực hiện.
Tác giả của luận văn này, ngƣời làm việc ở vị trí cán bộ dự án, là ngƣời chịu trách nhiệm chính trong việc viết đề xuất ý tƣởng và trực tiếp triển khai các hoạt động của can thiệp. Ngoài ra, can thiệp này còn có sự tham gia của hai thành viên khác, một ngƣời là lãnh đạo cơ quan, làm việc ở vị trí quản lý dự án, giữ vai trò quản lý chung và cố vấn kỹ thuật cho can thiệp, ngƣời còn lại là cán bộ hành chính tổng hợp, làm việc ở vị trí trợ lý, giữ vai trò hỗ trợ các hoạt động hành chính, tài chính liên quan tới dự án. Tổng quan những nghiên cứu, can thiệp liên quan đến đề tài PTCĐ xuất hiện từ thập niên 40, tại một số nƣớc là thuộc địa cũ của Anh. Ở Ghana, một ngƣời Anh đã vận động chính quyền và ngƣời dân góp công hoặc của để làm đƣờng, trƣờng, trạm.
Điều bất ngờ mà chiến dịch này mang lại là những dân nghèo, ít học, cam chịu cuộc sống khổ cực, đã tham gia tích cực, góp công, góp của để thực hiện những dự án để cải thiện đời sống cộng đồng. Kinh nghiệm này nhanh chóng lan rộng, trở thành một hoạt động phổ biến ở nhiều nƣớc. Đến năm1950, Liên Hợp Quốc công nhận khái niệm PTCĐ và khuyến khích sử dụng nó nhƣ là một công cụ để phát triển đất nƣớc. PTCĐ xuất hiện ở Việt Nam từ những năm 1950, tại Trƣờng tiểu học Lái Thiêu (Thủ Dầu Một-Bình Dƣơng) với sự hỗ trợ của tổ chức UNESCO, nhằm gắn nhà trƣờng với cộng đồng.
Học sinh, bên cạnh việc học chữ, còn đƣợc học thêm kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, vệ sinh để phục vụ phát triển nông thôn. Thầy cô giáo vừa có trách nhiệm dạy học vừa có nhiệm vụ giúp đỡ, hƣớng dẫn cộng đồng, và ngƣợc lại, cộng đồng có trách nhiệm hỗ trợ phát triển nhà trƣờng. Từ lĩnh vực giáo dục, PTCĐ đã nhanh chóng lan rộng ra nhiều lĩnh vực khác. Ngay sau đó, ở Long An đã có Trƣờng Sƣ phạm cộng đồng, giảng dạy những kỹ năng về đời sống cho sinh viên.
Tiếp đó, PTCĐ đƣợc đƣa vào giảng dạy tại một số Trƣờng Cao đẳng và Đại học sƣ phạm.