PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ đang là một vấn đề rất đƣợc quan tâm và chú ý hiện nay. Trong giai đoạn đất nƣớc phát triển hiện nay, mỗi ngày trên thế giới có khoảng hơn 3000 phụ nữ tử vong cũng nhƣ đang gặp phải các vấn đề do sức khỏe sinh sản. Tính riêng tại Việt Nam bình quan mỗi ngày có khoảng 20 đến 25 phụ nữ đang phải chung sống với các vấn đề về sức khỏe sinh sản cũng nhƣ mắc mới.
Các nguyên nhân hàng đầu khiến các con số cao nhƣ vậy là do: chị em còn thiếu kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản, ngại nói ra hay đến các cơ sở y tế khám chữa bệnh vì là vấn đề tệ nhị, do hạn chế về điều kiện kinh tế, địa hình sinh sống nên chƣa thể tiếp cận các dịch vụ y tế và công tác truyền thông cung cấp kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản,… [4, tr 26]. Đặc biệt là trong vấn đề nhận thức và công tác truyền thông chăm sóc sức khỏe cho ngƣời dân vẫn còn nhiều hạn chế dẫn đến những hậu quả tiêu cực cần khắc phục. Để khắc phụ những hạn chế trên thì trƣớc tiên phải nâng cao chất lƣợng giáo dục, nâng cao sức khoẻ của ngƣời dân nhằm tạo ra một lực lƣợng khoẻ mạnh về thể chất, tinh thần và đƣợc trang bị những tri thức phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội. Đây có thể nói là mối quan tâm hàng đầu, là mục tiêu quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc [13, tr 33].Thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ vùng sâu vùng xa luôn là vấn đề quan tâm của những nhà hoạch định chính sách, nhà xã hội học, nhà dân số học, nhà quản lý xã hội, y tế.Tăng cƣờng chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em cả nƣớc nói chung, cho miền núi, hải đảo, vùng sâu vùng xa nói riêng đang là một vấn đề ƣu tiên trong chiến lƣợc chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Những nỗ lực trong việc triển khai các chiến lƣợc quốc gia cũng nhƣ các chƣơng trình y tế đã đem lại những cơ hội khả quan cho việc chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ. Tuy nhiên trong thực tế, sự phát triển lại không đồng đều giữa các vùng: miền xuôi và miền núi, nông thôn và thành thị, hải đảo và đất liền. Chăm sóc sức khỏe sinh sản là một trong những mục tiêu và là nội dung công tác quan trọng của Uỷ ban Dân số Gia đình và Trẻ em, hiện nay là chức năng của Tổng 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cục Dân số- Kế hoạch hóa gia đình - (Bộ Y tế). Đối với chiến lƣợc Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản là một bộ phận tối quan trọng.
Nó có vai trò quyết định tới sự thành công hay thất bại của chiến lƣợc quốc gia này [3, tr 57]. Ở nƣớc ta hiện nay công tác truyền thông đang từng bƣớc mở rộng tầm ảnh hƣởng tới quần chúng. Các thông tin xã hội có định hƣớng, trong đó các vấn đề liên quan đến chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ đƣợc truyền tải nhiều hơn tới ngƣời dân đặc biệt là chị em phụ nữ cả về số lƣợng và chất lƣợng. Nhận thức của của ngƣời phụ nữ về các vấn đề liên quan đến chăm sóc sức khỏe sinh sản không ngừng đƣợc cải thiện.
Mặc dù vậy vẫn còn một khoảng cách khá lớn về nhận thức của ngƣời dân trong công tác nâng cao nhận thƣc chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ. Nhiều hoạt động truyền thông vẫn chƣa thự sự có hiệu quả trong việc tham gia, khuyến khích cộng đồng chung tay nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ. Đó là những thiếu hụt nghiêm trọng trong nhận thức và hành động thực tiến của đại bộ phân chị em nhất là những vùng nông thôn còn chƣa phát triển. Tìm hiểu vấn đề truyền thông về chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao nhận thức, khắc phục những thiếu hụt kiến thức cũng nhƣ phòng ngừa những nguy cơ liến quan đến các vấn đề sức khỏe sinh sản của chị em phụ nữ.
Trong những năm qua, thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ đã thực hiện đƣờng lối đổi mới của Đảng và Nhà nƣớc đã từng bƣớc tăng trƣởng kinh tế bền vững, các dịch vụ y tế, chất lƣợng cuộc sống của ngƣời dân đã từng bƣớc đƣợc nâng cao. Bên cạnh đó các nhu cầu và nguyện vọng của ngƣời dân đã đƣợc quan tâm và chú trọng hơn [46]. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt đƣợc không thể không nhắc đến những điểm hạn chế vẫn còn tồn tại nhƣ hạn chế trong công tác thăm khám, bảo vệ sức khỏe sinh sản của phụ nữ địa phƣơng và truyền thông nâng cao nhận thức chăm sóc sức khóe sinh sản của phụ nữ. Trong vòng 5 năm trở lại đây, thực trạng chị em phụ nữ thiết hụt kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản dẫn đến những hậu quả đáng tiếc vẫn còn tồn tại [33].
Mặc dù các cấp chính quyền cùng các cơ quan đoàn thể, tổ chức xã hội đã có những biện pháp nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu tình trạng trên nhƣng trong thức tế thì hiệu quả vẫn chƣa 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tại thị trấn Phong Châu, qua quá trình thực tiễn chúng tôi thấy rằng nhận thức của chị em phụ nữ về vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản còn thấp, còn nhiều thiếu hụt kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản của chính bản thân mình. Từ thực tế đó chứng minh cho chúng ta thấy sự cần thiết phải có một nghiên cứu thực tiễn để tìm ra một mô hình truyền thông hiệu quả nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng cũng nhƣ ý nghĩa của vấn đề xã hội trên, tôi chọn đề tài “Truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ tại thi trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình với mong muốn tìm hiểu thực trạng nhận thức và công tác truyền thông chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ tại địa phƣơng, kèm theo đó là xác định những nguyên nhân thực trạng đó và cuối cùng là đánh giá các nguồn lực trong công tác truyền để từ đó đề xuất kiến tạo một mô hình truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ, cải thiện và nâng cao đời sống sức khỏe nhân dân địa phƣơng nói chung và chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ nông thôn nói riêng.
Tổng quan tình hình nghiên cứu Vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ hiện nay đang là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứu xã hội học và ngành y tế không chỉ ở Việt Nam mà còn cả trên thế giới. Phụ nữ là nhóm xã hội đặc biệt luôn chiếm đƣợc sự quan tâm rất lớn của Đảng, Chính Phủ và các tổ chức xã hội, do đó có rất nhiều công trình lấy đối tƣợng nghiên cứu là phụ nữ và các vấn đề liên quan đến chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ. Trong phần tổng quan nghiên cứu này, tác giả tiến hành nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ theo các góc độ: Nhận thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ, truyền thông nâng cao nhận thức và truyền thông dựa vào cộng đồng 2. Nghiên cứu dưới góc độ xã hội học Chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ đang là một vấn đề đáng đƣợc quan tâm và chú trọng hiện nay không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới.
Xã hội 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com càng phát triển, nhu cầu chăm sóc, tìm hiểu, nâng cao kiến thức về sức khỏe đặc biệt là sức khỏe sinh sản của chị em phụ nữ ngày càng tăng và cần thiết hơn bao giờ hết bởi phụ nữ là một nửa thế giới, là ngƣời mẹ, ngƣời bà, là ngƣời có vị trí vô cùng quan trọng trong gia đình và xã hội. Theo một nghiên cứu cho thấy, từ những năm 1970, tình trạng bệnh tật và sức khỏe sinh sản của phụ nữ đã đƣợc các nƣớc có thu nhập cao, các nƣớc phát triển quan tâm và giảm thiểu tỉ lệ mắc bệnh nhờ những nỗ lực tuyên truyền, phòng ngừa và quan tâm bằng nhiều phƣơng thức khác nhau. Trong khi đó thì tại các nƣớc có thu nhập thấp, các nƣớc đang phát triển và chậm phát triển thì gánh nặng về bệnh tật ngày càng tăng do nhiều nguyên nhân môi trƣờng, chính sách, các nguồn bệnh mới. đây là mối quan ngại vô cùng lớn đối với toàn xã hội, với cuộc sống của con ngƣời nên sức khỏe sinh sản của phụ nữ chỉ là một vấn đề rất nhỏ và chƣa đƣợc quan tâm.
Một số nghiên cứu tại Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam cho thấy các vấn đề về sức khỏe sinh sản đặc biệt là các bệnh lây truyền qua đƣờng tình dục nhƣ HIV là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tỉ lệ tử vong ở phụ nữ còn hơn cả bệnh ung thƣ. Nghiên cứu cho thấy, trong khi các nƣớc phát triển chỉ có khoảng 140 phụ nữ tử vong do các bệnh về sức khỏe sinh sản trên 100.000 dân thì ở các nƣớc chậm phát triển hay các nƣớc đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á thì con số này lại cao hơn rất nhiều lên đến 1000 phụ nữ. Bện cạnh đó nghiên cứu cũng chỉ ra rằng không chỉ tỉ lệ phụ nữ tử vong vì các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản cao mà những phụ nữ hiện vẫn đang chung sống cùng bệnh tật đƣờng sinh sản cũng là rất lớn với con số là 25.000 phụ nữ trên 100.000 thậm chí có trƣờng hợp đã thăm khám nhƣng chƣa khỏi và có cả những trƣờng hợp không có sự can thiệp về y tế do nhiều yếu tố tác động khác nhau [19, tr 42]. Mỗi ngày, trên khắp thế giới cuộc sống của ngƣời phụ nữ luôn phải đối mặt với rất khó khăn và yếu tố tác động đến hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản của bản thân.
Vấn đề trên đã đƣợc đề cập đến rất nhiều trong các nghiên cứu khoa học hay nhƣ hiện nay nó còn đƣợc nâng cao thành một môn học trong trƣờng đại học vơi tên gọi hết sức cụ thể và khoa học là “Nhân học y tế”.