Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm “Nhân lực” Là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, tùy theo những cách tiếp cận khác nhau mà có những quan điểm khác nhau về nhân lực Theo Liên Hợp Quốc trong Các chỉ số phát triển thế giới (World Development Indicators) (2000) thì: “Nhân lực là tất cả những kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ với sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước” [10,tr18].Đỗ Minh Cương và PGS.TS Nguyễn Thị Doan (2001) Giáo trình Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia thì: “Nhân lực là những cá nhân có nhân cách, có khả năng lao động sản xuất” [2,tr20].
Lê Thanh Hà (2012) trong cuốn Giáo trình Quản trị nhân lực, NXB Đại học Lao động xã hội thì cho rằng “Nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” [65,tr17]. Như vậy, có thể hiểu Nhân lực bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội, tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển trong doanh nghiệp. Khái niệm “doanh nghiệp” Hiện nay trên phương diện lý thuyết có khá nhiều định nghĩa thế nào là một doanh nghiệp, mỗi định nghĩa đều mang trong nó một nội dung nhất định với một giá trị nhất định. Xét theo quan điểm luật pháp: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản, có quyền và nghĩa vụ dân sự hoạt động kinh tế theo chế độ hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh tế 7 Luan van trong phạm vi vốn đầu tư do doanh nghiệp quản lý và chịu sự quản lý của Nhà nước bằng luật và chính sách thực thi”.
Xét theo quan điểm chức năng: Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất( có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của Công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm và giá thành của sản phẩm ấy. Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. [11, tr1] Như vậy, xem xét dưới các góc độ khác nhau doanh nghiệp có thể hiểu theo nghĩ khái quát nhất là: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, có con dấu, trụ sở,… hoạt động năm trong sự kiểm soát của nhà nước và chịu tác động từ thị trường chung toàn Thế giới. Doanh nghiệp với hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình sẽ tạo ra giá trị lợi nhuận, góp phần vào sự phát triển của toàn xã hội nói chung.
Đào tạo, bồi dưỡng nhân lực Theo Từ điển Tiếng Việt: “Đào tạo, bồi dưỡng là làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định” [13, tr.379] Theo Đỗ Minh Cương và Nguyễn Thị Doan (2001), Giáo trình phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội thì “Đào tạo, bồi dưỡng là quá trình tác động đến một con người, làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và có khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người” [2, tr. Nguyễn Vân Điềm và PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân (2007) Giáo trình Quản trị nhân lực, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân: “Đào tạo, bồi dưỡng được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho 8 Luan van người lao động nắm vững hơn về công việc của mình là những hoạt động học tập nhằm nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực nhiệm vụ lao động hiệu quả hơn”[4,tr135] Bồi dưỡng được hiểu là quá trình bổ sung, cập nhật, nâng cao kiến thức và kỹ năng làm việc cho đội ngũ nhân lực. Bồi dưỡng là công việc thường được tiến hành sau đào tạo, bồi dưỡng, nó bổ sung các kiến thức chuyên môn cho người lao động trong quá trình làm việc trên nền tảng kiến thức đã học.
Tóm lại, đào tạo, bồi dưỡng là hoạt động học tập nhằm giúp người lao động thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động hiệu quả hơn. Vai trò của đào tạo, bồi dưỡng nhân lực trong doanh nghiệp Đào tạo, bồi dưỡng nhân lực là điều kiện tiên quyết để công ty có thể tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh trạnh 1. Đối với Công ty Nâng cao năng suất lao động và hiệu suất làm việc, qua đó giúp tăng lợi nhuận cho Công ty, tạo ra điều kiện để phát triển và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tăng cường vị thế và uy tín thương hiệu Giảm bớt sự giám sát vì người lao động sau quá trình đào tạo, bồi dưỡng đã được trang bị kiến thức chuyên môn, đảm bảo hiệu suất hoàn thành công việc ở mức cao; tinh thần sáng tạo đổi mới.
Đồng thời, người lao động có động lực và trách nhiệm làm việc cao. Đảm bảo tính ổn định và phát triển của doanh nghiệp. Nhờ đội ngũ người lao động đã qua đào tạo, bồi dưỡng với chuyên môn kỹ thuật cao sẽ giúp ổn định mức doanh thu trong các thời kỳ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp sẵn sàng đương đầu cạnh tranh và phát triển, mở rộng thị trường 1. Đối với người lao động Thông qua việc đáp ứng nhu cầu tự hoàn thiện và nâng cao giá trị bản thân bằng các chương trình đào tạo, bồi dưỡng sẽ giúp tăng cường mối quan hệ gắn bó 9 Luan van giữa người lao động với doanh nghiệp.
Đồng thời, người lao động có ý thức đóng góp vào mục tiêu chung. Bằng cách cung cấp các chương trình đào tạo, bồi dưỡng người lao động có chuyên môn nghiệp vụ cao và đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ được giao, nâng cao năng suất lao động. Qua đó, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động cùng gia đình, người thân của họ. Đảm bảo tạo ra nền tảng cơ bản cho người lao động về kiến thức máy móc sản xuất và kỹ năng chuyên môn.
Qua đó, giúp cho người lao động có thể dễ dàng thích ứng với sự đổi mới, nâng cao, hiện đại hóa trong tương lai. Đối với xã hội Bằng việc duy trì và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực góp phần ổn định và phát triển đất nước. Khi người lao động có kiến thức, kỹ năng thực hiện công việc sẽ hạn chế được tối đa tình trạng thất nghiệp từ đó tránh được các tệ nạn xã hội. Đồng thời, năng suất lao động và chất lượng sản phẩm tăng sẽ góp phần hạ giá thành sản phẩm tạo ra được lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, qua đó góp phần bình ổn thị trường, nâng cao chất lượng cuộc sống xã hội.
Người lao động được đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng chuyên môn vững vàng và đạo đức nghề nghiệp tốt sẽ góp phần vào công tác quản lý, đảm bảo an ninh trật tự xã hội. Đội ngũ lao động chất lượng cao giúp cho các doanh nghiệp đủ sức cạnh tranh công bằng, lành mạnh. Qua đó góp phần tạo nên môi trường năng động, sáng tạo và chắt lọc tinh hoa. Quy trình đào tạo, bồi dưỡng nhân lực Bước • Xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng 1 Bước • Lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng 2 Bước • Tổ chức thực hiện đào tạo, bồi dưỡng 3 • Đánh giá kết quả chương trình đào tạo, Bước bồi dưỡng 4 Bước • Đánh giá hiệu quả sau đào tạo, bồi dưỡng 5 Sơ đồ 1.
Quy trình đào tạo, bồi dưỡng nhân lực 1. Xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng Phương pháp xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng về số lượng có thể chia thành 2 loại đó là: Xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nhân viên và xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý. Xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nhân viên: Xác định số lượng nhân viên từng phòng ban Xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cho từng nhân viên Xác định danh sách những nhân viên cần đào tạo, bồi dưỡng b. Xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng Để xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ quản lý cần tiến hành một số bước quan trọng sau: Một là, so sánh kiến thức thực tế của các cán bộ quản lý với yêu cầu về các kiến thức, kỹ năng, trình độ được nêu trong bản mô tả công việc và bản mô tả đối với người thực hiện công việc.
Hai là, xác định số người cần tuyển thêm ở các bộ phận và các chức danh công việc cần tuyển thêm Ba là, dựa trên mục tiêu và chiến lược phát triển của công ty, lựa chọn những cá nhân cần thiết để tiến hành đào tạo, bồi dưỡng trong năm kế hoạch. 11 Luan van Bốn là, dựa trên khả năng chi tiêu tài chính cho đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên có thế mời hoặc huy động. Xác định nội dung đào tạo, bồi dưỡng Đối với việc đào tạo, bồi dưỡng nhân viên mới sẽ bao gồm các nội dung như sau: Giới thiệu chung về doanh nghiệp, các quy định nội quy, quy chế hoạt động của công ty và một số vấn đề chung khác Đối với việc đào tạo, bồi dưỡng nhân viên đang làm việc tại Công ty: Xác định xem NLĐ còn thiếu những kiến thức, kỹ năng gì; cần bổ sung những kiến thức, kỹ năng gì để đáp ứng yêu cầu của công việc.