phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chƣơng, 9 tiết. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở một số quốc gia. Chƣơng 2: Thực trạng nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở thành phố Hà Nội. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp chủ yếu phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp hoa, hiện đại hoá trên địa bàn thành phố Hà Nội từ nay đến năm 2020.
6 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở MỘT SỐ QUỐC GIA 1. PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC VÀ VAI TRÕ CỦA NÓ 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm nguồn nhân lực (Human resource - HR) NNL là khái niệm đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học.
Trong quá trình nghiên cứu các nhà khoa học đã đƣa ra nhiều khái niệm về NNL dƣới những góc độ khác nhau: Về ý nghĩa sinh học, NNL là nguồn lực sống, là thực thể thống nhất của mặt sinh học và mặt xã hội.Mác đã khẳng định: "Trong tính hiện thực của nó, bản chất con ngƣời là tổng hòa các quan hệ xã hội". Về ý nghĩa kinh tế, NNL là "tổng hợp các năng lực lao động trong mỗi con ngƣời của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, địa phƣơng, đã đƣợc chuẩn bị ở mức độ nhất định và có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc hoặc vùng địa phƣơng cụ thể" [9, tr. Theo quan niệm của ILO thì lực lƣợng lao động là dân số trong độ tuổi lao động thực tế có việc làm và những ngƣời thất nghiệp. Đây là khái niệm về NNL theo nghĩa tƣơng đối hẹp, coi NNL là nguồn lao động hoặc là toàn bộ lực lƣợng lao động trong nền kinh tế quốc dân.
Trong số liệu thống kê, Tổng cục Thống kê Việt Nam qui định NNL xã hội là những ngƣời trong độ tuổi lao động đang có việc làm và cả những ngƣời ngoài độ tuổi lao động thực tế đang làm việc và những ngƣời thất nghiệp. Theo giáo trình kinh tế lao động, thì: NNL đƣợc hiểu là nguồn lực con ngƣời, là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế xã hội. NNL khác với các nguồn lực khác (nguồn lực tài chính, nguồn lực vật 7 z chất, nguồn lực công nghệ…) là ở chỗ: trong quá trình vận động, NNL chịu tác động của yếu tố tự nhiên (sinh, tử…) và yếu tố xã hội (việc làm, thất nghiệp. Chính vì vậy, NNL là một khái niệm khá phức tạp, đƣợc nghiên cứu dƣới nhiều giác độ khác nhau.
NNL vốn đƣợc hiểu nhƣ là nơi sản sinh, nuôi dƣỡng và cung cấp nguồn lực con ngƣời cho sự phát triển. Cách hiểu này muốn chỉ rõ nguồn gốc tạo ra nguồn lực con ngƣời, nghiêng về sự biến động tự nhiên của dân số và ảnh hƣởng của nó tới sự biến động NNL. NNL còn đƣợc hiểu nhƣ một yếu tố tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển kinh tế xã hội, là tổng thể những con ngƣời cụ thể tham gia vào quá trình lao động. Cách hiểu này cụ thể hơn và có thể lƣợng hóa đƣợc, đó là năng lực lao động của xã hội, bao gồm những ngƣời có khả năng lao động, tức là bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất trong NNL.
Trong lý luận về lực lƣợng sản xuất, con ngƣời đƣợc coi là lực lƣợng hàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự vận động và phát triển của lực lƣợng sản xuất, quyết định quá trình sản xuất và do đó quyết định năng suất lao động và tiến bộ xã hội. Ở đây, con ngƣời đƣợc xem xét từ góc độ là lực lƣợng sản xuất cơ bản của xã hội. Theo Thuyết lao động xã hội thì nguồn nhân lực đƣợc hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con ngƣời cho sự phát triển. Do đó, NNL bao gồm toàn bộ dân cƣ có cơ thể phát triển bình thƣờng (trừ những ngƣời bị dị tật bẩm sinh).
Theo nghĩa hẹp: Nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cƣ trong độ tuổi lao động, có tham gia vào nền sản xuất xã hội tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ đƣợc huy động vào quá trình lao động. Trong lý thuyết về tăng trƣởng kinh tế, thì NNL chính là nguồn lực chủ yếu tạo động lực cho sự phát triển. Vì vậy việc cung ứng đầy đủ và kịp thời 8 z NNL theo yêu cầu của nền kinh tế là yếu tố đóng vai trò quyết định đảm bảo tốc độ tăng trƣởng kinh tế - xã hội. Do đó, bất cứ hiện tƣợng thiếu hoặc thừa sức lao động đều gây ra những khó khăn cho sản xuất xã hội và ảnh hƣởng trực tiếp tới tốc độ tăng trƣởng kinh tế.
Đây là đối tƣợng của môn Kinh tế phát triển. Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng: NNL là toàn bộ vốn con ngƣời bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp,… mà mỗi cá nhân sở hữu. Nhƣ vậy, ở đây nguồn lực con ngƣời đƣợc coi nhƣ một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn khác: vốn vật chất, vốn tài nguyên thiên nhiên,… Trong kinh tế học hiện đại đầu tƣ cho con ngƣời đƣợc xem là đầu tƣ quan trọng nhất trong các loại đầu tƣ và đƣợc coi là cơ sở vững chắc cho sự phát triển bền vững. Liên hiệp quốc cũng có cách tiếp cận tƣơng tự và cho rằng: “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con ngƣời có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nƣớc” [17, tr.
Quan niệm này xem xét nguồn lực con ngƣời chủ yếu ở phƣơng diện chất lƣợng con ngƣời và vai trò, sức mạnh của nó đối với sự phát triển xã hội. Chính vì vậy, Liên hiệp quốc đã kêu gọi các quốc gia quan tâm hơn nữa tới NNL, vì: …đầu tƣ vào vốn con ngƣời trƣớc hết có tỷ lệ thu hồi vốn cao hơn so với đầu tƣ cho các nguồn lực khác… tiết kiệm đƣợc việc sử dụng và khai thác các nguồn lực khác, lợi ích thu đƣợc từ đầu tƣ này có tính lan tỏa đồng đều hơn so với đầu tƣ vào các nguồn lực khác. Do vậy, việc tập trung phát triển con ngƣời sẽ đem lại tốc độ phát triển cao hơn, ổn định hơn và công bằng hơn trong phân phối lợi ích của sự phát triển [17, tr. Theo UNDP, thì NNL là tổng thể những năng lực (cơ năng và trí năng) của con ngƣời đƣợc huy động vào quá trình sản xuất, nguồn năng lực - nội lực đó của con ngƣời cũng chính là nội lực xã hội của một quốc gia.
Đối với những nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam, với dân số đông, NNL dồi dào đang trở thành một trong những nguồn nội lực quan trọng nhất và nếu biết 9 z khai thác nguồn nội lực đó một cách hiệu quả sẽ tạo ra một động lực to lớn cho phát triển kinh tế - xã hội. Ở Việt Nam, theo ý kiến của các nhà khoa học tham gia chƣơng trình khoa - công nghệ cấp Nhà nƣớc, mã số KX - 07: “Con ngƣời Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” do giáo sƣ, tiến sỹ khoa học Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm, cho rằng nguồn lực con ngƣời đƣợc hiểu là số dân và chất lƣợng con ngƣời, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất [6, tr. Giáo sƣ, tiến sỹ Hoàng Chí Bảo cho rằng: Nguồn lực con ngƣời là sự kết hợp thể lực và trí lực, cho thấy khả năng sáng tạo, chất lƣợng - hiệu quả hoạt động và triển vọng mới phát triển của con ngƣời” [8, tr.14] tức là kết cấu bên trong của nguồn nhân lực bao gồm sức mạnh thể lực, trí tuệ và sự kết hợp hai yếu tố đó tạo thành năng lực sáng tạo của con ngƣời trong quá trình cải tạo tự nhiên. Trong luận án tiến sỹ triết học - nguồn lực con ngƣời trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, tác giả Đoàn Khải cho rằng: Nguồn lực con ngƣời là khái niệm chỉ số dân, cơ cấu dân số và nhất là chất lƣợng con ngƣời với tất cả đặc điểm và sức mạnh của nó trong sự phát triển xã hội” [32, tr.
Theo quan điểm của tác giả Lê Thị Ngân, trong luận án tiến sỹ thì nguồn nhân lực đƣợc quan niệm là tổng thể sức lao động của xã hội đang và sẽ đƣợc vận dụng cho quá trình sản xuất xã hội hay nói một cách rõ hơn: NNL là tổng thể những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong tổng số lực lƣợng lao động của xã hội và đƣợc họ đang và sẽ đem ra vận dụng để sản xuất ra hàng hóa tiêu dùng cho xã hội [36, tr. Theo quan điểm của một số nhà khoa học khác, thì: nguồn nhân lực đƣợc xem là số dân và chất lƣợng con ngƣời, bao gồm cả thể chất, tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực phẩm chất, thái độ và phong cách lao động. 10 z Do khi nghiên cứu NNL xuất phát từ nhiều cách tiếp cận khác nhau nhƣ vậy nên có những khái niệm khác nhau về NNL, nhƣng nhìn chung các khái niệm đó đều thống nhất về nội dung cơ bản là: NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là yếu tố cấu thành lực lƣợng sản xuất, giữ vai trò quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia. Nhƣ vậy, khi nói tới NNL trƣớc hết phải hiểu đó là toàn bộ những ngƣời lao động đang có khả năng tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế - xã hội và các thế hệ những ngƣời lao động tiếp tục tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế xã hội, con ngƣời đóng vai trò là chủ thể sáng tạo và chi phối toàn bộ quá trình đó, hƣớng nó tới mục tiêu đã đƣợc chọn.
Cho nên NNL nó còn bao gồm một tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, thái độ và phong cách làm việc- đó chính là các yếu tố thuộc về chất lƣợng nguồn nhân lực.