Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI Tổng hợp các kết quả nghiên cứu tiềm năng cây ăn quả Việt Nam (Bùi Huy Đáp (1960)[23], Nguyễn Minh Châu (1997)[14], Trần Thế Tục (1967)[67], và nhiều tác giả khác [8], [30], [32], [81],.) cùng có chung nhận định, khu vực miền núi phía Bắc bao gồm các tỉnh: Tuyên Quang, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lai Châu, Sơn La, Yên Bái, Lạng Sơn. là vùng có tiềm năng phát triển cam quít lớn, đặc biệt có ưu thế về điều kiện khí hậu, khả năng mở rộng diện tích và có tập đoàn giống phong phú, đa dạng. Khí hậu ở vùng này ngoài thích hợp với sinh trưởng phát triển bình thường của cam quít, còn có ưu thế nổi bật so với một số vùng khác trong nước là có mùa đông lạnh, biên độ nhiệt độ ngày đêm và giữa các tháng chênh lệch lớn làm cho quả cam quít đẹp, chất lượng tốt, thể hiện đặc trưng của giống, vì vậy quả cam quít ở phía Bắc bao giờ cũng đẹp hơn ở phía Nam, quả ít hạt hơn, thịt mềm, mọng nước và ít xơ bã.
Ngoài những ưu thế nổi bật trên, sản xuất cam quít vùng này còn gặp một số hạn chế rất cơ bản là: - Địa bàn phân tán, ít vùng có điều kiện sản xuất tập trung lớn. - Địa hình dốc, hiện tượng xói mòn, rửa trôi diễn ra mạnh làm cho đất chóng nghèo kiệt dẫn tới tuổi thọ của cam quít ngắn, nếu như không có biện pháp bảo vệ đất và chăm sóc tốt. - Cơ sở hạ tầng kém phát triển, khó khăn trong việc đầu tư lớn. Giao thông đi lại khó khăn, hạn chế về tiếp thị thị trường, mở rộng vùng sản xuất.
- Trình độ dân trí thấp, trình độ quản lý và chuyên môn của đội ngũ cán bộ còn hạn chế. Việc áp dụng khoa học công nghệ và tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất chưa nhiều, tiến độ chậm. Đây là một trong những hạn chế mang tính xã hội cao và cực kỳ quan trọng vì phong tục tập quán của người dân vùng này còn nặng nề, tính thích ứng với cơ chế thị trường sản xuất hàng hoá chậm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 7 - Tình trạng sâu bệnh hại phát triển trên diện rộng, đặc biệt là những bệnh nghiêm trọng như Greening, Tresteza,.
- Sản phẩm nông nghiệp nói chung, cam quít nói riêng chưa theo kịp sự cạnh tranh với cơ chế thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu. Cam quít được xếp vào loại cây ăn quả lâu năm, quá trình sinh trưởng, ra hoa kết quả chịu ảnh hưởng nhiều của các yếu tố: các yếu tố về nội tại (di truyền), các yếu tố sinh thái (nhiệt độ, ánh sáng, đất đai.) và các yếu tố về kỹ thuật canh tác. Trong đó, các yếu tố về sinh thái ít có sự thay đổi, có thay đổi cũng mang tính quy luật và thường diễn ra trong khoảng thời gian dài, chính vì vậy những đặc tính ưu việt của giống (các yếu tố nội tại) biểu hiện ở quá trình sinh trưởng và phát triển, cho năng suất cao, phẩm chất tốt chịu sự ảnh hưởng rất lớn bởi các yếu tố về biện pháp kỹ thuật canh tác. Tổng hợp những kết quả đã nghiên cứu cam, quít của các tác giả trong và ngoài nước, tác giả Đỗ Đình Ca (1995) [11] nhận định: “Không thể có một kỹ thuật nào, một giống nào chung cho tất cả các vùng trên thế giới cũng như ở trong nước trong việc sản xuất Cam, Quít”.
Vì vậy, mỗi vùng sinh thái đặc trưng cần phải xây dựng các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp với yêu cầu (nội tại) của từng giống. NGUỒN GỐC VÀ LỊCH SỬ TRỒNG CAM QUÍT TRÊN THẾ GIỚI Trong các loại cây ăn quả, cùng với cây nho, cây cam quít có lịch sử trồng trọt lâu đời nhất. Có nhiều kết quả nghiên cứu nói về nguồn gốc của cam quít (Bùi Huy Đáp (1960) [23]; Trần Thế Tục (1967) [67]; Haa A., (1988) [114]; Walter Reuther et al [115], [116]; …) phần lớn đều thống nhất cam quít có nguồn gốc ở miền Nam châu Á, trải dài từ Ấn Độ qua Himalaya Trung Quốc xuống vùng quần đảo Philippin, Malaysia, miền Nam Indonecia hoặc kéo đến lục địa Úc. Những báo cáo gần đây (Huang C.Singh (1993) [107]; Wakana A Kira (1998) [114]) nhận định, tỉnh Vân Nam Trung Quốc có thể là nơi khởi nguyên của nhiều loài cam quít quan trọng, tại đây còn tìm thấy rất Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 8 nhiều loài cam quít hoang dại.
Loài chanh yên, phật thủ (Citrus medica) có nguồn gốc tại miền nam Trung Quốc, là loài cây ăn quả được mang đến trồng tại Địa Trung Hải và Bắc Phi rất sớm, trước thế kỷ 1 sau công nguyên, những tài liệu cổ xưa có ghi chép loài cây ăn quả này ở Bắc Phi đến mức làm nhiều người hiểu lầm chúng có nguồn gốc tại đây. Các loài chanh vỏ mỏng (Lime, C. Auranlifolia Swingle) được xác định) có nguồn gốc ở miền nam Trung Quốc và miền tây Ấn Độ, sau đó được các thuỷ thủ đi biển mang về trồng ở châu Phi, Địa Trung Hải và châu Âu, v. Các loài chanh núm (Lemon, Citrus lemon) chưa xác định được nguồn gốc, nhưng những kỹ thuật di truyền hiện đại gần đây cho thấy có thể chanh núm là con lai tự nhiên giữa Citrus medica và Citrus Aurantifolia, chính vì vậy mà chanh núm có dạng hình thái trung gian giữa hai loại vừa kể trên.
Chanh núm được xác định sử dụng như một loại quả sớm nhất vào năm 1150 ở bắc Phi, vùng biển Địa Trung Hải và châu Âu. Cam ngọt (Citrus Sinensis L.) được xác định có nguồn gốc ở miền nam Trung Quốc, Ấn Độ và miền Nam Indonecia, sau đó cũng giống như loài Citrus medica được các thuỷ thủ và những người lính viễn chinh mang về trồng ở châu Âu, Địa Trung Hải, châu Phi từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 17 (Walter Reuther et al (1989) [117]. Giống cam nổi tiếng thế giới "Washington Navel", ở Việt Nam vẫn thường gọi là cam Navel được báo cáo là dạng đột biến tự nhiên từ một giống cam ngọt, giống này được phát hiện ở Bahia Brazil, lần đầu tiên trồng ở Úc năm 1824, ở Florida (Mỹ) năm 1835, ở Califolia năm 1870 và sau đó ở Washinhton nó trở nên rất nổi tiếng với tên gọi cam Washinhton Navel (Raymond, P. Giống Washinhton Navel được du nhập và trồng ở khắp các vùng cam quít trên thế giới.
Các giống bưởi (Citrus grandis) được báo cáo (theo tác giả Bùi Huy Đáp (1960) [22]; Walter Reuther el al [114]) có nguồn gốc ở Malaysia, Ấn Độ, một thuyền trưởng người Ấn Độ có tên là Shaddock đã mang giống bưởi này tới trồng ở vùng biển Caribe, sau đó bưởi được giới thiệu ở Palestin vào năm 900 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 9 sau công nguyên và tiếp theo mới đến các nước ở châu Âu. Bưởi chùm (Citrus paradisis) được xác định là dạng đột biến hay dạng con lai tự nhiên của bưởi (Citrus grandis), xuất hiện sớm nhất ở vùng Barbadas miền tây Ấn Độ, tiếp theo là trồng ở Bang Florida (Mỹ) vào năm 1809, sau đó lan rộng và trở thành một trong những sản phẩm quả chất lượng cao ở châu Mỹ. Các giống quít cũng được xác định có nguồn gốc ở miền nam châu Á, gồm miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, sau đó được những người đi biển mang đến trồng ở Ấn Độ. Quít (Citrus reticulata) được trồng ở vùng Địa Trung Hải, châu Âu và châu Mỹ muộn hơn so với các loài quả có múi khác, vào khoảng năm 1805.
Tóm lại, cam quít có nguồn gốc ở miền Nam châu Á, sự lan trải của cam quít trên thế giới gắn liền với lịch sử buôn bán đường biển và các cuộc chiến tranh trước đây. * Các loài trong họ cam quít Theo tác giả Swingle, W. (1967) [111], cam quít thuộc họ Rutaceae có chung những đặc điểm phân loại như: cây có mang tuyến dầu (chủ yếu phân bố ở lá), bầu mọc nối trên đài hoa, lá phần lớn có đỉnh viền răng cưa, quả gồm 2 hay nhiều noãn bên trong. Họ Rutaceae, được phân chia thành 130 giống (genus) nằm trong 7 họ phụ khác nhau, trong đó họ phụ Aurantirideae có ý nghĩa nhất.
Sự phân loại chi tiết hơn dưới họ phụ Aurantirideae có tộc Citreae (28 genus) và tộc phụ Citrinae (13 genus), 3 nhóm: “tiền cam quít”, “gần cam quít” và nhóm “cam quít thực sự” (true citrus group) được phân nhóm từ Citreace và tộc phụ Citrnae. Sự phân loại cam quít khá phức tạp vì có các yếu tố như: có rất nhiều giống (cultivars) trong sản xuất và các dạng con lai của các giống này (hybrids), đột biến và hiện tượng đa bội thể cũng là những nhân tố gây khó khăn cho phân loại cam quít. Tác giả Wakana A Kira (1988) [113] tổng hợp, hiện nay tồn tại 2 hệ thống phân loại cam quít được áp dụng nhiều là Swingle phân chia cam quít ra thành 16 loài (species) và Tanaka (Nhật Bản) phân chia cam quít gồm 160 - Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www. Tanaka quan sát thực tiễn sản xuất và cho rằng các giống (cultivars) cam quít qua trồng trọt đã có nhiều biến dị trở thành giống mới, căn cứ đặc điểm hình thái của các giống đã biến dị và ông phân chúng thành một loài mới hoặc giống mới với tên khoa học được bắt đầu bằng tên của giống hoặc loài đã sinh ra chúng và kết thúc bằng chữ Horticulture Tanaka.
Bảng phân loại của Swingle đơn giản hơn nên được sử dụng nhiều, tuy nhiên các nhà khoa học vẫn phải dùng bảng phân loại của Tanaka để gọi tên các giống cam quít vì bảng phân loại này chi tiết đến tên từng giống. Có 10 loài quan trọng nhất trong nhóm “True citrus group” (bảng 1.1) và và tên của một số nhóm con lai phổ biến (bảng 1.2), đây là những loài được trồng phổ biến và có ý nghĩa với con người, cụ thể được mô tả như sau: * Các loài cam quít có ý nghĩa trong sản xuất Bảng 1.1: Các loài cam quít thực sự có ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Tên loài Tên tiếng Anh Tên tiếng Việt C. sinensis Sweets orange Cam ngọt C. aurantium Sour orange Cam chua C.
reticulata Mandarin Quít C. paradisis Pomelo (grapefruit) Bưởi chùm C. grandis Shadock (pummelo) Bưởi C. limon Lemon Chanh ta C.
medica Citron Chanh núm C. aurantifolia Lime Chanh vỏ mỏng có núm C. margarita Kumquat Quất Bảng 1.2: Tên gọi của các nhóm con lai (hybrids) Tangar = Mandarin × sweet orange Tangelo = Mandarin × graefruit Lemonlime = Lemon × lime Citrange = Poncirus × sweet orange Citrumelo = Poncirus × grapefruit Limequat = Lime × kumquat Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.