Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới và Việt Nam 1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới Trên thế giới sắn được trồng trên 100 nước có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới từ 30 vĩ độ Bắc đến 30 vĩ độ Nam chủ yếu thuộc ba châu lục: Châu Á, Châu Phi và Châu Mĩ La Tinh. Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới được thể hiện ở bảng 1.1: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới giai đoạn 2008 - 2013 Năm Diện tích Năng suất Sản lượng (triệu ha) (tấn/ha) (triệu tấn) 2008 19,11 12,20 233. Qua bảng số liệu 1.1 ta thấy sản lượng sắn của toàn thế giới trong năm 2013 là khoảng 276,72 triệu tấn, tăng 43,64 triệu tấn so với năm 2008 và 38,74 triệu tấn so với năm 2009. Từ năm 2008 đến năm 2013 diện tích sắn đã tăng 1,62 triệu ha, năng suất tăng 1,14 tấn/ha, Sở dĩ cây sắn hiện nay đang tăng cả về diện tích, năng suất và sản lượng là do chiến lược phát triển lương thực toàn cầu đã thực sự tôn vinh giá trị của cây sắn, vì là cây lương thực dễ trồng, thích hợp với đất nghèo dinh 5 dưỡng và cây công nghiệp có khả năng cạnh tranh cao với nhiều cây công nghiệp khác (Faostat, 2013) [19].
Qua bảng số liệu 1.2 ta thấy hiện nay cây sắn được trồng tại 105 quốc gia, năm 2013 toàn thế giới có 20732,19 nghìn ha sắn, trong đó có 68.38% diện tích sắn được trồng ở châu Phi, châu Á chiếm 20,17%, châu Mỹ chiếm 11,34%. Năm 2013 trên thế giới có 57,09% sản lượng sắn được sản suất ở Châu Phi, Châu Á 31,88% và chỉ có 10,93% ở Châu Mỹ. Diện tích, năng suất, sản lượng sắn của những nước trồng sắn chính trên thế giới năm 2013 (sản lượng hơn 1 triệu tấn) Diện tích Năng suất Sản lượng Vùng trồng (1. Châu Phi có tổng diện tích trồng sắn năm 2013 là 14177,33 nghìn ha, năng suất củ tươi bình quân 11,44 tấn/ha, sản lượng 157,98 triệu tấn 6 (Faostat, 2013) [19].
Ở Châu Phi nước có diện tích sắn lớn nhất là Angola với 1167,94 nghìn ha, năng suất đạt 14,05 tấn/ha, sản lượng 16,41 triệu tấn. Angola là nước có diện tích lớn nhất nhưng năng suất lại thấp hơn Ghana 2,67 tấn/ha. Sắn là nguồn lương thực chính của người dân tại nhiều nước ở vùng này. Châu Phi là nơi tình trạng suy dinh dưỡng tăng lên gấp đôi trong hai thập kỷ qua nên cây sắn hiện được coi là giải pháp an toàn lương thực hàng đầu.
Năm 2013 tổng diện tích sắn trồng ở Châu Mỹ là 2351,74 nghìn ha, năng suất củ tươi bình quân 12,36 tấn/ha, sản lượng 12,86 triệu tấn. Năng suất trung bình ở Châu Mỹ cao hơn năng suất trung bình của Châu Phi là 1,92 tấn/ha. Brazil là nước có diện tích trồng sắn lớn nhất thế giới với 1525,44 nghìn ha. Thái Lan là nước có diện tích lớn thứ hai trên thế giới với 1385 nghìn ha, thấp hơn so với Brazil là 140,44 nghìn ha.
Tồn tại chính trong sản suất và tiêu thụ sắn ở Châu Mỹ là trình độ kỹ thuật thâm canh chưa cao, công nghiệp chế biến tinh bột sắn không phát triển bằng Châu Á, sắn chủ yếu sử dụng tươi và làm thức ăn gia súc. Châu Á cùng với Châu phi và Châu Mỹ là một trong ba vùng trồng sắn quan trọng của thế giới. Diện tích sắn Châu Á hiện có 4181,77 nghìn ha, sản lượng 88,22 triệu tấn đứng thứ hai sau Châu Phi, năng suất sắn ở Châu Á hiện đạt bình quân 21,09 tấn/ha cao hơn Châu Phi 8,23 tấn/ha. Ấn Độ hiện là nước có năng suất đạt cao nhất thế giới với 34,95 tấn/ha, Campuchia là nước có năng suất cao đứng thứ hai trên thế giới 22,85tấn/ha thấp hơn so với Ấn Độ là 12,1 tấn/ha.
Nhìn vào số liệu bảng 1.2 ta thấy nước có diện tích cao nhất Châu Á là Thái Lan với 1385 nghìn ha và đến là Indonexia với 1065 nghìn ha và sản lượng Thái Lan 30,22 triệu tấn sản lượng cao nhất châu Á. Năng suất sắn ở các nước Châu Á trong các năm qua đều tăng nhanh, Ấn Độ là nước có năng 7 suất cao nhất thế giới (34,95 tấn/ha), kế đến là Campuchia ( năng suất 22,85 tấn/ha). Tổ chức lương thực thế giới xếp sắn là cây lương thực quan trọng ở các nước đang phát triển sau lúa gạo, ngô và lúa mì. Sản lượng sắn của thế giới được tiêu dùng trong nước khoảng 85% (lương thực 58%, thức ăn gia súc 28%, chế biến công nghiệp 3%, hao hụt 11%), còn lại xuất khẩu dưới dạng sắn lát khô, sắn viên và tinh bột (CIAT.
Sắn không những là cây lương thực mà còn là cây thức ăn gia súc quan trọng tại nhiều nước trên thế giới đồng thời cũng là cây hàng hóa xuất khẩu có giá trị nhằm chế biến bột ngọt, bánh kẹo, mì ăn liền, ván ép, bao bì, màng sinh học và phụ gia dược phẩm… Hiện nay các nước trên thế giới ngoài phần sắn sử dụng ăn tươi ra thì còn dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến tinh bột và là nguyên liệu chính cho công nghiệp chế biến nhiên liệu sinh học (ethanol). Về xuất khẩu Thái Lan là nước xuất khẩu sắn nhiều nhất trên thế giới, số lượng sắn xuất khẩu chiếm trên 85% lượng xuất khẩu sắn toàn cầu, tiếp đến là Indonexia và Việt Nam. Thị trường xuất khẩu sắn chủ yếu của Thái Lan là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản và cộng đồng châu Âu với tỷ trọng xuất khẩu sắn khoảng 40% bột và tinh bột sắn lát và sắn viên. Giá sắn trên thị trường thế giới biến động nhiều.
Đầu năm 2008 tăng mạnh, có thời điểm giá sắn lát nhập khẩu vào Trung Quốc đạt 200USD/tấn và giá xuất khẩu tinh bột của Thái Lan đạt khoảng 440 USD/tấn. Nhưng từ cuối năm 2008 do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, giá sắn đã giảm rất mạnh. Giá tinh bột sắn vào tháng 2/2009 chỉ còn 240 USD/tấn, giảm 40% so với cùng kỳ 2008. Tuy vậy trong những tháng gần đây, sự phục hồi của giá dầu thô và nhu cầu tiêu thụ sắn của Trung Quốc tăng mạnh đã giúp giá sắn 8 tăng trở lại.
Hiện giá tinh bột sắn tại Thái Lan đã tăng lên 285USD/tấn, tăng 19% so với tháng 2/2009. Viện nghiên cứu Chính sách lương thực thế giới (IFPRI), đã tính toán nhiều mặt và dự báo tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn toàn cầu với tầm nhìn đến năm 2020. Năm 2020 sản lượng sắn toàn cầu ước đạt 275.10 triệu tấn, trong đó sản xuất sắn chủ yếu ở các nước đang phát triển là 274.7 triệu tấn, các nước phát triển khoảng 0,40 triệu tấn. Mức tiêu thụ sắn ở các nước đang phát triển dự báo đạt 254.60 triệu tấn so với các nước đã phát triển là 20,5 triệu tấn.
Khối lượng sản phẩm sắn toàn cầu sử dụng làm lương thực thực phẩm dự báo nhu cầu là 176.3 triệu tấn và thức ăn sắn gia súc 53. Tốc độ tăng hàng năm của nhu cầu sử dụng sản phẩm làm lương thực, thực phẩm và thức ăn gia súc đạt tương ứng là 1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn tại Việt Nam Ở Việt Nam cây sắn đã chuyển đổi vai trò từ cây cây lương thực sang cây công nghiệp với tốc độ cao, năng suất và sản lượng sắn đã tăng nhanh ở thập kỉ đầu của thế kỷ XXI. Cây sắn là nguồn thu nhập quan trọng của các hộ nông dân nghèo do sắn dễ trồng, ít kén đất, ít vốn đầu tư phù hợp với sinh thái và kinh tế nông hộ (Phạm Văn Biên, 1999)[1].
Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn của Việt Nam trong những năm gần đây đã có những bươc tiến đáng kể. Tại Việt Nam sắn được canh tác phổ biến ở hầu hết các tỉnh của các vùng sinh thái nông nghiệp. Diện tích, năng suất và sản lượng sắn Việt Nam qua các năm và phân theo các vùng sinh thái được thể hiện qua bảng 1. Diện tích, năng suất và sản lượng sắn Việt Nam giai đoạn 2005-2013 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (1.69 9,74 2013 544,3 17,89 9,74 Nguồn: http://www.
Qua số liệu bảng 1.3 cho thấy: Trong vòng 9 năm từ năm 2005-2013 diện tích trồng sắn tăng từ 425,5 nghìn ha lên đến 544,3 nghìn ha và năng suất tăng từ 15,7 lên 17,89 tấn/ha. Sản lượng tăng gấp từ 6,71 triệu tấn lên 9,74 triệu tấn. Sản xuất lương thực là ngành trọng tâm và có thế mạnh của Việt Nam tầm nhìn đến năm 2020. Chính phủ Việt Nam chủ trương đẩy mạnh sản xuất lúa, ngô và coi trọng việc sản xuất sắn, khoai lang ở những vùng, những vụ có điều kiện phát triển Diện tích sắn của Việt Nam dự kiến ổn định khoảng 500 nghìn ha nhưng sẽ tăng năng suất và sản lượng sắn bằng cách chọn tạo và phát triển các giống sắn tốt có năng suất củ tươi và hàm lượng tinh bột cao, xây dựng và hoàn thiện quy trình kỹ thuật canh tác sắn bền vững và thích hợp vùng sinh thái.
Đất trồng sắn ở Việt Nam tập trung ở các tỉnh miền núi phía Bắc, ven biển trung bộ và vùng Tây Nguyên. Ở Việt Nam khoảng 66% diện tích của 10 sắn được trồng trên đất đồi núi, 40% diện tích còn lại được trồng trên các loại đất khác. Sắn thích hợp với đất có độ pH từ 4,5-60. Tại miền Bắc Việt Nam, sắn được trồng chủ yếu ở khu vực có địa hình đồi núi và khoảng 68% của diện tích trồng sắn là đất đá và cát pha tương ứng.
Trong khi đó sắn ở miền Nam Việt Nam được trồng chủ yếu trên đất cát màu xám, các loại đất này phẳng và nghèo chất dinh dưỡng, các khu vực ven biển miền trung và Đông Nam, chiếm khoảng 60% diện tích sắn toàn miền Nam. Trong khi đó hơn 30% diện tích sắn được trồng ở Tây Nguyên và Đồng Nai, Bình Phước của khu vực Đông Nam trên đất đỏ màu vàng với địa hình đồi núi. Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của các vùng sinh thái Việt Nam năm 2013 Diện tích Năng suất Sản lượng Vùng sinh thái (1000 ha) (tấn/ha) (1000 tấn) Đồng bằng sông Hồng 6,60 15,86 104,70 Trung du và miền núi phía 117,20 12,80 1500,50 Bắc Bắc Trung bộ và Duyên hải 173,90 17.67 3078 miền Trung Tây Nguyên 147,60 17,12 2526,40 Đông Nam Bộ 92,50 26,33 2435,80 Đồng bằng sông Cửu Long 6,30 15,37 96,80 Cả nước 544,30 17,89 974 Nguồn: http://www. Qua bảng số liệu 1.4 ta thấy: Năm 2013 diện tích trồng sắn đã đạt 544,3 trong đó có khoảng 75,93% tổng diện tích trồng sắn được phân bố ở các bờ biển miền Trung, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.