Chương 1. Ly luận chung về năng lực thực thi công vụ của công chức Địa chính — nông nghiệp — xây dựng và môi trường cấp xã. Thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức Địa chính — nông nghiệp — xây dựng và môi trường cấp xã trên địa bàn huyện Hòn Dat, tỉnh Kiên Giang. Giải pháp nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức Địa chính — nông nghiệp — xây dựng và môi trường cấp xã trên địa bàn huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
18 CHUONG 1: CO SO LY LUAN VE NANG LUC CÔNG CHỨC ĐỊA CHÍNH - NÔNG NGHIỆP - XÂY DỰNG VÀ MÔI TRƯỜNG CỦA CHÍNH QUYÈN CÁP XÃ 1. Những vấn đề cơ bản về công chức Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường của chính quyền địa phương cấp xã 1. Một số khái niệm cơ bản 1.1 Cấp xã Cấp xã là cấp quản lý thấp nhất trong hệ thống chính trị ở nước ta. Và cấp xã là tên gọi chung đề chỉ ba dạng tô chức: - Phường: chỉ tồn tại Thành phố trực thuộc trung ương; Thành phố thuộc tỉnh; thị xã; - Thi tran: trung tâm hành chính — kinh tế của huyện; - Xã: đơn vị hành chính nhà nước thấp nhất.
Cấp xã là nơi trực tiếp thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước. Sự đúng, sai trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước được thể hiện trực tiếp ở cấp xã, cả về phương thức thực thi lẫn sự phù hợp hay không phù hợp của đường lối đó với lợi ích của nhân dân. Tầm quan trọng đó của cấp xã đòi hỏi cán bộ, công chức (người làm việc nói chung cho chính quyền cấp xã) phải có đủ năng lực dé thực thi nhiệm vụ được pháp luật nhà nước giao cho. Đến 31/12/2016 cả nước có 11.162 đơn vị hành chính cấp xã bao gồm 1.567 phường, 597 thi tran va 9.064 xã; với tổng số trên 222.735 cán bộ, công chức và 317.766 cán bộ không chuyên trách cấp xã [9].
Đây là những người trực tiếp thực hiện và đưa chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân, tuyên truyền, vận động và tổ chức nhân dân thực hiện. Công chức Thuật ngữ công chức cũng mang ý nghĩa tương đối và khác nhau giữa các quốc gia và từng giai đoạn. Theo cách tiếp cận đơn giản, nhưng bao quát, công chức là “một nhóm người đặc biệt làm việc cho nhà nước do pháp luật nhà nước quy định”[30]. Với cách tiếp cận này, không đồng nhất cụm từ này giữa các nước theo các giai đoạn.
Và điều này phù hợp với quá trình phát triển và sử dụng cụm từ này ở Việt Nam. Sau 10 năm thực hiện, có hiệu lực của Pháp lệnh [27], Luật cán bộ, công chức ra đời cũng tạo ra một cách tiếp cận mới hẹp hơn về phạm vi điều chỉnh của cụm từ công chức. Theo pháp luật quy định “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tô chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng: trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”, [26]. Nếu so sánh với các quốc gia, cụm từ công chức ở Việt Nam rất khác voi các nước ngay cả ASEAN.
Và do đó, khi sử dụng cụm từ nảy cũng phải xem xét tính đặc thù của Việt Nam. Công chức cấp xã Công chức cấp xã cũng là một khái niệm được sử dụng ở Việt Nam dé phân biệt với công chức làm việc từ cấp huyện trở lên. Theo tinh thần của pháp lệnh 2003 [27] cũng được nhắc lại ở Luật cán bộ, công chức (2008) “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”, [26]. Công chức cấp xã có các chức danh: - Trưởng Công an; - Chỉ huy trưởng Quân sự; - Văn phòng - thống kê; - Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); - Tài chính - kế toán; - Tư pháp - hộ tịch; - Văn hóa - xã hội [26].
Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý (tuyển dụng, bố nhiệm). Đến năm 2016, theo số liệu thống kê, Việt Nam có 222.735 cán bộ, công chức và 317.766 cán bộ không chuyên trách cấp xã. Đây là những người trực tiếp thực hiện và đưa chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân, tuyên truyền, vận động và tổ chức nhân dân thực hiện. Trong luận văn này, chỉ nghiên cứu loại công chức Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường cấp xã.
Công chức Địa chính- nông nghiêp- xây dựng và môi trường cấp xã 1. Tổng quan về công chức Địa chính- nông nghiêp- xây dựng và môi trường cấp xã Thep pháp luật quy định tên công chức thuộc nhóm công chức Địa chính- nông nghiệp- xây dựng và môi trường chỉ áp dụng cho các xã (nông thôn); đối với thị trấn và Phường tên gọi là công chức Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường [16]. Đây là một trong 7 nhóm công chức cấp xã. Và về nguyên tắc, những quy định chung cho công chức cấp xã cũng được áp dụng cho công chức Địa chính- nông nghiêp- xây dựng và môi trường cấp xã.
Mặt khác, do thực hiện những nhiệm vụ mang tính đặc thù của lĩnh vực địa chính- nông nghiêp- xây dựng và môi trường, nên loại công chức được quy định những nội dung khác. Họ là công dân Việt Nam được tuyên dụng giữ chức danh chuyên môn là: Địa chính - nông nghiệp- xây dựng và môi trường, thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật trong các lĩnh vực: Đất đai, nông nghiệp, tài nguyên, môi trường, xây dựng, đô thị, giao thông trên địa bàn, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Theo số liệu của Bộ Nội vụ đến hết năm 2014, số lượng công chức Dia chính - nông nghiệp- xây dựng và môi trường cấp xã là 20. Nhiệm vụ của công chức Địa chính - nông nghiệp- xây dựng và môi trường cấp xã Nhiệm vụ, quyền hạn của công chức nói chung cũng như công chức cấp cơ sở nói riêng của các nước cũng như Việt Nam đều do pháp luật nhà nước quy định.
Và đó là những gì bắt buộc công chức phải chấp hành, có trách nhiệm chấp hành. 22 Tùy theo từng giai đoạn phát triển, quy định nhiệm vụ và quyền hạn cho công chức cũng sẽ thay đổi. Công chức cấp xã ở Việt Nam mới được hình thành từ 2003 đến nay. Việc quy định nhiệm vụ và quyền hạn cho công chức nói chung và công chức Địa chính - nông nghiệp- xây dựng và môi trường cấp xã cũng phụ thuộc vào văn bản pháp luật.
Theo đó, nhiệm vụ của công chức Địa chính — nông nghiệp - xây dựng và môi trường chia làm hai nhóm: nhóm tham mưu và nhóm trực tiếp thực hiện [27]. Về tham mưu: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân xã trong các lĩnh vực: Đất đai, tài nguyên, môi trường, xây dựng, đô thị, giao thông trên địa bàn theo quy định của pháp luật. VỀ trực tiếp thực hiện: - Thu thập thông tin, tổng hợp số liệu, lập số sách các tài liệu và xây dựng các báo cáo về đất đai, địa giới hành chính, tài nguyên, môi trường và đa dạng sinh học, công tác quy hoạch, xây dựng, đô thị, giao thông, nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới trên địa bàn theo quy định của pháp luật; - Tổ chức vận động nhân dân áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, bảo vệ môi trường trên địa bàn xã; - Giám sát về kỹ thuật các công trình xây dựng thuộc thâm quyền quản lý của Ủy ban nhân dân xã; - Chủ trì, phối hợp với công chức khác thực hiện các thủ tục hành chính trong việc tiếp nhận hồ sơ và thâm tra để xác nhận nguồn gốc, hiện trạng đăng ký và sử dụng đất đai, tình trạng tranh chấp đất đai và biến động về đất đai trên địa bàn; xây dựng các hồ sơ, văn bản về đất đai và việc cấp phép cải tạo, xây dựng các công trình và nhà ở trên địa bàn để Chủ tịch Ủy ban nhân dân 23 cấp xã quyết định hoặc báo cáo Ủy ban nhân dân cấp trên xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, công chức cấp xã nói chung cũng như công chức Địa chính- nông nghiệp- xây dựng và môi trường cấp xã thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật và do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp giao.
Mỗi một chính quyền địa phương cấp tỉnh, căn cứ vào phân cấp quản lý công chức cũng như định hướng chung của Bộ Nội vụ, quy định chỉ tiết hơn nhiệm vụ và quyền hạn của công chức cấp xã. Số lượng công chức Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường tùy thuộc vào từng địa phương cụ thê. Nếu cả nước hiện nay có 11.162 đơn vị cấp xã, với số lượng công chức Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường là 20.625 thì bình quân một đơn vị cấp xã chỉ có chưa đến 2 công chức Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường [9]. Trong khi đó, nhiệm vụ của công chức Địa chính- nông nghiệp- xây dựng và môi trường lại bao gồm khác nhiều lĩnh vực.
Và văn bản pháp luật hiện nay không quy định chuẩn tuyệt đối về công chức Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường nói riêng cũng như các loại công chức khác. Pháp luật chỉ quy định số lượng tối đa cho một cấp xã về cán bộ, công chức.