CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về năng lực tài chính của doanh nghiệp 1. Khái niệm năng lực tài chính doanh nghiệp Một cách khái quát, năng lực tài chính được hiểu “là khả năng đảm bảo nguồn lực tài chính cho hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu doanh nghiệp đề ra”.
Phạm Thị Vân Anh, Giải pháp nâng cao năng lực tài chính của doanh nghiệp vừa và nhỏ, 2012). Khả năng này trước hết được hiểu là khả năng huy động vốn để đáp ứng cho các hoạt động của doanh nghiệp, bên cạnh đó còn có hàm ý khái niệm về năng lực tài chính của doanh nghiệp là khả năng đảm bảo an toàn tài chính doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp, chỉ tiêu năng lực tài chính không chỉ là nguồn lực tài chính đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiêp mà còn là khả năng khai thác, quản lý và sử dụng các nguồn lực đó phục vụ hiệu quả cho hoạt động kinh doanh. Năng lực tài chính không chỉ thể hiện sức mạnh hiện tại mà còn thể hiện sức mạnh tài chính tiềm năng, triển vọng và xu hướng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp đó.
Có ba tiêu chí chính để đánh giá năng lực tài chính doanh nghiệp gồm: Thứ nhất, năng lực tài chính doanh nghiệp thể hiện ở khả năng huy động nguồn vốn của doanh nghiệp. Thứ hai, năng lực tài chính của doanh nghiệp còn thể hiện thông qua năng lực quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả của doanh nghiệp. Thứ ba , năng lực tài chính được thể hiện ở khả năng đảm bảo an toàn tài chính. Phân tích năng lực tài chính là một vấn đề quan trọng trong phân tích tài chính doanh nghiệp.
Trên cơ sở đánh giá, doanh nghiệp có thể nhận biết, phán đoán và dự báo để đưa ra những quyết định tài chính, quyết định tài trợ cũng như đầu tư phù hợp. Nội dung phân tích năng lực tài chính của doanh nghiệp Việc phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm hiện tại cho thấy thực trạng về nguồn vốn, tài sản, nguồn hình thành tài sản, các khoản nợ của doanh nghiệp. Từ đó đánh giá được mặt mạnh mà doanh nghiệp đang có và những mặt yếu kém mà doanh nghiệp đang mắc phải. Thông qua việc phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp còn thấy được cơ cấu tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp có hợp lý không, tổng tài sản cao hay thấp, doanh nghiệp đang kinh doanh có lãi hay lỗ.
Từ đó rút ra là doanh nghiệp có năng lực tài chính hay không, nếu doanh nghiệp có năng lực tài chính thì xu hướng tăng hay giảm để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực tài chính của doanh nghiệp trong tương lai. Các nội dung phân tích năng lực tài chính doanh nghiệp gồm có: 1 1. Phân tích tình hình tài sản Để đánh giá mức độ an toàn cho quá trình sản xuất kinh doanh, cần phân tích cơ cấu tài sản bằng cách so sánh tổng tài sản đầu kỳ với tổng tài sản cuối kỳ, cũng như tính đến tỷ lệ từng loại tài sản trong tổng tài sản. Giá trị của từng bộ phận tài sản Tỷ trọng của từng bộ phận tài sản = × 100% Tổng số tài sản Cơ cấu tài sản được xem xét để đối chiếu tỷ trọng của từng loại tài sản cao hay thấp, có phù hợp với mô hình sản xuất kinh doanh đang đề cập hay không.
Khi xem xét cơ cấu tài sản, ngoài việc so sánh tổng số tài sản cũng như từng loại tài sản đầu kỳ so với cuối kỳ thì còn phải xem xét tỷ trọng từng loại tài sản chiếm trong tổng số và xu hướng biến động của chúng để đưa ra được mức độ hợp lý của việc phân bổ. Phân tích tình hình nguồn vốn Tỷ lệ phần trăm của từng loại nguồn vốn khác nhau trong tổng vốn được gọi là cơ cấu vốn. Việc phân tích tình hình biến động và cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp để đánh giá được khả năng tự tài trợ về mặt tài chính của doanh nghiệp cũng như mức độ tự chủ, chủ động trong kinh doanh hay những khó khăn và thách thức mà doanh nghiệp đang gặp phải. Tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn được xác định như sau: Giá trị của từng bộ phận nguồn vốn Tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn= × 100% Tổng nguồn vốn Cũng như phân tích tình hình tài sản, dựa vào bảng phân tích kết cấu nguồn vốn để xem xét tỷ trọng từng khoản, nguồn vốn chiếm trong tổng số là cao hay thấp.
Phân tích tình hình nguồn vốn là so sánh tổng nguồn vốn đầu kỳ và cuối kỳ. Đối chiếu đầu kỳ và cuối kỳ của từng loại nguồn vốn qua đó đánh giá xu hướng thay đổi của nguồn vốn. Trong phân tích kết cấu nguồn vốn, cần chú ý đến tỷ suất tài trợ ( còn gọi là tỷ suất vốn chủ sở hữu). Chỉ số này cho thấy mức độ tự chủ của của doanh nghiệp về vốn, cũng như tỉ lệ giữa vốn chủ sở hữu so với tổng nguồn vốn.
Tỷ suất tài trợ cao thể hiện khả năng tự chủ cao hay mức độ tự tài trợ của doanh nghiệp tốt. Phân tích kết quả kinh doanh Mục đích phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là để đánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có lãi hay không. Nếu doanh nghiệp kinh doanh có lãi thì doanh nghiệp sẽ có khả năng huy động được vốn trên thị trường khi cần, từ đó dẫn tới năng lực tài chính của doanh nghiệp tốt hơn. Nếu doanh nghiệp hoạt động không có lãi thì sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc huy động vốn trong sản xuất từ đó làm giảm năng lực tài chính của doanh nghiệp.
2 Thư viện ĐH Thăng Long Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mỗi kỳ là kết quả tổng hợp của nhiều hoạt động. Kết quả các hoạt động đó được biểu hiện dưới hình thức giá trị và tỷ lệ với các chỉ tiêu khác. Để phân tích kết quả kinh doanh ta cần lập bảng phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong 3 năm, sử dụng kỹ thuật so sánh theo chiều dọc kết hợp so sánh theo chiều ngang để thấy được sự biến động giữa chúng. Từ đó sẽ thấy được thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, sự biến động của từng khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Trên cơ sở đó ta đánh giá được tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mạnh hay yếu, doanh nghiệp đang kinh doanh có lãi hay lỗ, ảnh hưởng của kết quả kinh doanh tới năng lực tài chính của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp Như đã đề cập ở trên, năng lực tài chính của doanh nghiệp là khả năng tạo lập, phát triển và quản lý sử dụng vốn của doanh nghiệp. Trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp muốn huy động vốn một cách thuận lợi và tăng trưởng vốn thì doanh nghiệp phải làm ăn có hiệu quả để nguồn vốn tạo được càng nhiều lợi nhuận càng tốt. Vì vậy khi đánh giá năng lực hoạt động tài chính của doanh nghiệp, doanh nghiệp thường xem xét trên các phương diện hiệu quả sử dụng các loại vốn, khả năng sinh lời của vốn và khả năng độc lập tài chính của doanh nghiệp.
Để đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp, cần phân tích báo cáo tài chính hàng năm để xác định sự biến động của một số chỉ tiêu và ý nghĩa của sự biến động. Thông qua báo cáo kết quả kinh doanh, thấy được khả năng huy động vốn của doanh nghiệp có tốt hay không. Bảng cân đối kế toán cung cấp dữ liệu về tình hình vốn và nguồn vốn của doanh nghiệp từ đó thấy được khả năng trả nợ, khả năng thanh toán tức thời, khả năng thanh toán nhanh… Bên cạnh đó kết hợp phân tích một số các chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định, vốn lưu động và khả năng sinh lời trên vốn của doanh nghiệp… Năng lực tài chính của một doanh nghiệp được đánh giá dựa trên các nhóm chỉ tiêu sau: − Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán. − Nhóm chỉ tiêu về năng lực hoạt động và hiệu quả kinh doanh.
− Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời. − Nhóm chỉ tiêu phản ảnh cấu trúc nguồn vốn và tài sản. Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán Khả năng thanh toán của doanh nghiệp là khả năng trả được nợ đáo hạn các khoản nợ của doanh nghiệp. Đây là một tiêu chí quan trọng phản ánh tình hình tài chính và 3 năng lực kinh doanh của doanh nghiệp.
Thông qua việc đánh giá và phân tích có thể thấy rõ những rủi ro tài chính của doanh nghiệp. Năng lực tài chính thấp là dấu hiệu cho thấy doanh nghiệp bị căng thẳng về tiền vốn, không đủ tiền chi tiêu trong hoạt động kinh doanh hàng ngày đồng thời cũng thể hiện vòng quay của vốn thấp, khó có thể thanh toán các khoản nợ đến hạn. Nếu khả năng thanh toán thấp có thể dẫn doanh nghiệp tới nguy cơ phá sản vì không trả được nợ đến hạn. Tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh rõ nét chất lượng hoạt động tài chính.
Nếu hoạt động tài chính tốt, doanh nghiệp sẽ cân đối các nguồn tiền để luôn có nguồn tiền sẵn sàng tại thời điểm các khoản nợ đáo hạn. Các chỉ tiêu sử dụng để phân tích khả năng thanh toán bao gồm: - Hệ số thanh toán tổng quát: Tổng tài sản Hệ số khả năng thanh toán tổng quát = Tổng nợ phải trả Hệ số khả năng thanh toán tổng quát là chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán chung của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo. Chỉ tiêu này phản ánh mối quan hệ giữa tổng tài sản hiện nay mà doanh nghiệp đang quản lý sử dụng với tổng số nợ phải trả ( nợ ngắn hạn, nợ dài hạn,. Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp có khả năng thanh toán được bao nhiêu lần nợ phải trả bằng tổng tài sản.
Nếu hệ số khả năng thanh toán tổng quát của doanh nghiệp lớn hơn 1, doanh nghiệp bảo đảm được khả năng thanh toán tổng quát và ngược lại. Nếu hệ số này nhỏ hơn 1 báo hiệu doanh nghiệp không bảo đảm được khả năng trang trải các khoản nợ. Trị số của hệ số khả năng thanh toán tổng quát càng gần 1, doanh nghiệp càng mất dần khả năng thanh toán.