CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP NGÀNH VIỄN THÔNG.1 Năng lực tài chính và các chỉ tiêu đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm về năng lực tài chính “Năng lực” theo Từ điển tiếng Việt là khả năng đủ để làm một công việc nào đó hay “Năng lực” là những điều kiện được tạo ra hoặc vốn có để thực hiện một hoạt động nào đó. “Tài chính” là sự vận động của vốn tiền tệ diễn ra ở mọi chủ thể trong xã hội, nó phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế này phát sinh trong phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong xã hội. Vậy, Năng lực tài chính của doanh nghiệp là nguồn lực tài chính của bản thân doanh nghiệp, là khả năng tạo tiền, tổ chức lưu chuyển tiền hợp lý, đảm bảo khả năng thanh toán thể hiện ở quy mô vốn, chất lượng tài sản và khả năng sinh lời … đủ để đảm bảo và duy trì hoạt động kinh doanh được tiến hành bình thường.2 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp Đây là yếu tố quan trọng để xem xét tiềm lực của doanh nghiệp. Tiêu chí này bao gồm những nhóm chỉ tiêu sau: § Nhóm chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp: Hệ số khả năng thanh toán hiện hành = Tổng tài sản lưu động / Tổng nợ ngắn hạn Hệ số này cho biết một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu tài sản lưu động.
Hệ số này quá nhỏ, doanh nghiệp có khả năng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Hệ số này quá cao, tức doanh nghiệp đã đầu tư LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 2/77 vào tài sản lưu động quá nhiều, không mang lại hiệu quả lâu dài. Hệ số này hợp lý ở mức bằng 2 Hệ số khả năng thanh toán nhanh = (Tổng tài sản lưu động – Hàng tồn kho)/ Tổng nợ ngắn hạn Hệ số này cho biết một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu tiền đang có. Hệ số này càng cao càng tốt.
Hệ số này thường bằng 1 đối với doanh nghiệp hoạt động bình thường. Hệ số khả năng thanh toán tức thời = Tổng vốn tiền mặt / Tổng nợ ngắn hạn Hệ số này cho thấy khả năng doanh nghiệp thanh toán được nợ ngắn hạn ngay. Nếu hệ số này cao, doanh nghiệp có khả năng lớn, nhưng quá cao thì không có hiệu quả vì tiền mặt không sinh lời. Hệ số này hợp lý thường khoảng 0.
§ Nhóm chỉ tiêu đánh giá cơ cấu và nguồn vốn - Chỉ tiêu đánh giá cơ cấu nguồn vốn Tỷ lệ nợ = Tổng nợ phải trả / Tổng vốn (%) Tỷ lệ này càng thấp doanh nghiệp càng ít phụ thuộc, các khoản nợ càng đảm bảo thanh toán. Tỷ lệ này cần duy trì ở mức trung bình của ngành là hợp lý. - Chỉ tiêu đánh giá cơ cấu tài sản Tỷ lệ tài sản cố định = Tài sản cố định / Tổng tài sản (%) Tỷ lệ tài sản lưu động = Tài sản lưu động / Tổng tài sản (%) Chỉ tiêu này cho biết cơ cấu tài sản của doanh nghiệp có hợp lý và có phù hợp với đặc điểm kinh doanh của mình không. § Nhóm các chỉ tiêu về năng lực hoạt động hay hiệu suất sử dụng vốn: Vòng quay hàng tồn kho = Doanh thu thuần / Hàng tồn kho bình quân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 3/77 Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá mức độ phù hợp của tình hình dự trữ hàng hoá và vật tư.
Do luôn cần lượng dự trữ nhất định hàng tồn kho để đảm bảo kinh doanh bình thường nên tỷ số này cần duy trì ở mức tối ưu. Kỳ thu tiền bình quân = Các khoản phải thu bình quân / Doanh thu bình quân một ngày Chỉ tiêu này đo lường khả năng thu hồi vốn trong kinh doanh. Tuy nhiên, cần xem xét với chính sách tín dụng thương mại nhằm mục đích mở rộng thị trường của doanh nghiệp. Hiệu quả sử dụng tài sản cố định = Doanh thu thuần / Giá trị tài sản cố định bình quân Chỉ tiêu này đo lường hiệu suất sử dụng tài sản cố định xem một đồng vốn cố định tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu.
Tỷ số này càng cao thì càng tốt. Hiệu quả sử dụng toàn bộ tài sản = Doanh thu thuần / Tổng tài sản (Tổng vốn đầu tư) § Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu = Lợi nhuận / Doanh thu (%) Chỉ số này thể hiện lợi nhuận trên doanh thu bán hàng, chỉ số này càng cao thì càng tốt, chứng tỏ giá thành sản phẩm thấp. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư = Lợi nhuận / Tổng vốn đầu tư (%) Chỉ số này thể hiện 1 đồng vốn đem vào đầu tư thì sinh được bao nhiêu lợi nhuận Tỷ suất sinh lợi nhuận trên vốn tự có = Lợi nhuận / Tổng vốn chủ sở hữu bình quân (%) Đây là chỉ số các chủ sở hữu rất quan tâm. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Cạnh tranh và những nhân tố ảnh hưởng đến cạnh tranh giữa các doanh nghiệp 1.1 Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế hàng hóa, là điều kiện sống còn cho mỗi doanh nghiệp; nó ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực, các thành phần kinh tế.
Có thể tiếp cận về cạnh tranh như sau: Thứ nhất, khi nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua nhằm lấy phần thắng của nhiều chủ thể cùng tham dự. Thứ hai, mục đích cuối cùng của cạnh tranh là kiếm được lợi nhuận cao. Thứ ba, cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể, có các ràng buộc chung mà các bên tham gia phải tuân thủ như: đặc điểm sản phẩm, thị trường, các điều kiện pháp lý, các thông lệ kinh doanh… Thứ tư, trong quá trình cạnh tranh các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau: cạnh tranh bằng đặc tính và chất lượng sản phẩm dịch vụ, cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm dịch vụ, cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm, cạnh tranh nhờ dịch vụ bán hàng tốt, cạnh tranh thông qua hình thức thanh toán. Với cách tiếp cận trên, khái niệm cạnh tranh có thể hiểu như sau: “Cạnh tranh là sự ganh đua nhau giữa các nhà doanh nghiệp trong việc giành một số nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, để đạt được một mục tiêu kinh doanh cụ thể, ví dụ như lợi nhuận, doanh số hoặc thị phần”.2 Các hình thức cạnh tranh * Cạnh tranh về sản phẩm, dịch vụ Cạnh tranh về sản phẩm là cạnh tranh về chất lượng dịch vụ, phục vụ, sự đa dạng hoá của các dịch vụ giá trị gia tăng và tính độc đáo của nó.
Trong môi trường cạnh tranh gay gắt hiện nay, các doanh nghiệp tìm mọi cách để hoàn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 5/77 thiện sản phẩm dịch vụ của mình như: bao bì đóng gói, quảng cáo tư vấn, giao hàng, lưu kho…Cải tiến các thông số chất lượng kỹ thuật, nghiên cứu đưa những sản phẩm mới vào thị trường, đa dạng hoá chủng loại sản phẩm. * Cạnh tranh về giá Giá cả là một vũ khí lợi hại để doanh nghiệp tiến hành cạnh tranh, nhưng để thực hiện hiệu quả đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự nghiên cứu kỹ lưỡng những phản ứng từ phía khách hàng, đối thủ cạnh tranh để tránh xảy ra một cuộc chiến về giá, hơn nữa sử dụng công cụ này phải tuân theo các quy định của nhà nước. * Cạnh tranh về phân phối sản phẩm dịch vụ Để sản phẩm đến tay người tiêu dùng thì đòi hỏi doanh nghiệp phải có được hệ thống phân phối hoạt động đủ mạnh, có hiệu quả. Chọn kênh phân phối nào là một quyết định quan trọng ảnh hưởng lâu dài đến công tác đầu tư, phân đoạn khách hàng và toàn bộ chiến lược Marketing của doanh nghiệp.
* Cạnh tranh về xúc tiến bán hàng Quảng cáo và khuyến mãi đã trở nên không thể thiếu trên thị trường cạnh tranh gay gắt. Thông qua truyền thông, hình thức cạnh tranh này tỏ ra hiệu quả đối với những doanh nghiệp hiện nay: giúp gia tăng sự quan tâm, chú ý của khách hàng trong điều kiện thị trường đa dạng chủng loại, sản phẩm, dịch vụ .2 Năng lực cạnh tranh 1.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh là khả năng giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh của những hàng hóa cùng loại, trên cùng một thị trường tiêu thụ.2 Các tiêu chí chủ yếu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Viễn thông LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 6/77 * Giá cước dịch vụ Giá cước là một yếu tố nhạy cảm trong hầu hết các lĩnh vực kinh doanh, đặc biệt là trong kinh doanh dịch vụ. Các dịch vụ nói chung, dịch vụ Viễn thông là các dịch vụ có lợi thế theo quy mô, đồng thời cùng với sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của công nghệ thì chi phí sản xuất ngày càng giảm. Điều này đã tạo cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Viễn thông lợi thế cạnh tranh rất lớn.
Giá cước là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Viễn thông. Dựa vào giá cước dịch vụ người ta có thể đánh giá được thị phần của doanh nghiệp ra sao? Đối tượng sử dụng dịch vụ như thế nào? … * Chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ Viễn thông là một yếu tố không thể thiếu khi đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vì chất lượng dịch vụ ảnh hưởng trực tiếp tới cảm nhận của người tiêu dùng đối với sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. Chất lượng dịch vụ Viễn thông thể hiện trên các mặt chủ yếu sau: vùng phủ sóng rộng, tốc độ truyền đưa tin tức cao, độ an toàn của tin tức… Người tiêu dùng khi sử dụng dịch vụ Viễn thông luôn mong muốn có thể gọi, nhận cuộc gọi, sử dụng các dịch vụ giá trị gia tăng … ở tất cả mọi nơi, thời gian chờ thực hiện yêu cầu ngắn, tin tức được đảm bảo an toàn, chính xác, … Nếu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Viễn thông không thực sự quan tâm tới các vấn đề trên khiến khách hàng không hài lòng về dịch vụ thì việc khách hàng rời bỏ doanh nghiệp là điều tất yếu có thể xảy ra.