CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ KHAI THÁC HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 1.1 Cơ sở lý luận về năng lực quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi 1.1 Một số khái niệm 1.1 Năng lực quản lý * Khái niệm năng lực: Từ những năm 1970, đã có rất nhiều định nghĩa về năng lực được đưa ra từ nhiều hướng tiếp cận khác nhau. McClelland (1973) mô tả “năng lực như là một đặc tính cơ bản để thực hiện công việc”. Boyatzis (1982) mở rộng thêm định nghĩa của McClelland và quan niệm rằng “năng lực như là các đặc tính của một cá nhân liên quan đến việc thực hiện công việc đạt hiệu quả cao”. Spencer and Spencet (1993) dựa trên định nghĩa về năng lực của Boyatzis và mô tả “năng lực như là đặc tính cơ bản của một cá nhân (kiến thức, kỹ năng, thái độ, động cơ, nét tiêu biểu và ý niệm về bản thân) có liên quan đến các tiêu chí đánh giá hiệu suất công việc”… Các định nghĩa trên mặc dù có sự khác nhau nhưng hầu hết đều có chung một số quan điểm về năng lực như: Năng lực bao gồm một loạt các kiến thức, kỹ năng, thái độ hay các đặc tính cá nhân khác cần thiết để thực hiện công việc thành công.
Năng lực được hiểu là một tập hợp các kiến thức, kỹ năng và thái độ hay các phẩm chất cá nhân khác (động cơ, nét tiêu biểu, ý niệm về bản thân, mong muốn thực hiện…) mà tập hợp này là thiết yếu và quan trọng của việc hình thành những sản phẩm đầu ra. Từ đó, năng lực được xem như là những phẩm chất tiềm tàng của một cá nhân và đòi hỏi của công việc để thực hiện công việc thành công. Cụ thể: Năng lực cốt lõi: Bao gồm các yếu tố hành vi quan trọng đối với tất cả nhân viên. Năng lực này đòi hỏi các vị trí trong tổ chức phải thực hiện được thành công nhiệm vụ theo yêu cầu, đáp ứng được sứ mệnh, tầm nhìn, tiêu chuẩn và kế hoạch chiến lược của tổ chức.
6 Năng lực chung: Mô tả khả năng, đặc tính cụ thể của một nhóm và được xem như là một bộ phận công tác. Năng lực này có điểm giống năng lực cốt lõi, nhưng ở mức độ cao hơn về trình độ để thực hiện nhiệm vụ công việc cụ thể. Năng lực chung cũng bao gồm năng lực chuyên môn, đặc biệt là các kỹ năng nghề nghiệp cụ thể. Các kỹ năng này có thể được tích lũy từ giáo dục, đào tạo hoặc kinh nghiệm làm việc.
Năng lực cá nhân: Đây là năng lực dành riêng cho một vị trí công việc cụ thể, có thể kế thừa từ năng lực chung hay năng lực cốt lõi nhưng yêu cầu mức độ thạo việc cao hơn. Những năng lực cá nhân cũng có thể bao gồm những năng lực chuyên môn, trong đó đề cập đến các kỹ năng nghề nghiệp cụ thể tích lũy được từ giáo dục, đào tạo hoặc dựa trên một lĩnh vực chuyên môn cụ thể. * Khái niệm về quản lý Quản lý là việc quản trị của một tổ chức, có thể là một doanh nghiệp, một tổ chức phi lợi nhuận hoặc cơ quan chính phủ. Quản lý bao gồm các hoạt động thiết lập chiến lược của một tổ chức và điều phối các nỗ lực của nhân viên (hoặc tình nguyện viên) để hoàn thành các mục tiêu của mình thông qua việc áp dụng các nguồn lực sẵn có, như tài chính, tự nhiên, công nghệ và nhân lực.
Hoặc cũng có thể hiểu quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nguồn lực và hoạt động của một tổ chức nhằm đạt được mục đích của hệ thống với kết quả và hiệu quả cao một cách bền vững trong điều kiện môi trường luôn biến động (2) Các yếu tố cơ bản của quản lý bao gồm: Thứ nhất, quản lý là một quá trình thực hiện các chức năng quản trị. Bao gồm một chuỗi các hoạt động từ lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra. Trong đó: • Lập kế hoạch (hoạch định): Là việc xác định các mục tiêu và mục đích mà tổ chức phải hoàn thành trong tương lai và quyết định về cách thức để đạt được những mục tiêu đó • Tổ chức là quá trình tạo ra cơ cấu mối quan hệ giữa các thành viên (các bộ phận trong tổ chức). Thông qua đó cho phép họ thực hiện các kế hoạch và hoàn thành các mục tiêu chung của tổ chức.
7 • Lãnh đạo là quá trình điều khiển, tạo động lực cho con người để họ làm việc một cách tốt nhất nhằm đạt được các mục tiêu kế hoạch đã đặt ra bằng các phương pháp thích hợp. • Là quá trình giám sát chủ động đối với công việc của một tổ chức, so sánh với tiêu chuẩn đề ra và điều chỉnh khi cần thiết. Quá trình kiểm soát là quá trình tự điều chỉnh liên tục và thường diễn ra theo chu kỳ. Các hoạt động trên còn được gọi là các chức năng quản trị.
Các chức năng này có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau, và được thực hiện theo một trình tự nhất định. Quá trình quản trị phải thực hiện đồng bộ các chức năng nói trênthì mới có thể đạt được hiệu quả quản trị như mong muốn. Thứ hai, đối tượng của quản lý: Đối tượng của quản lý là các mối quan hệ giữa con người với con người ở bên trong và bên ngoài tổ chức. Chủ thể quản lý tác động lên con người cùng với các nguồn lực khác trong hệ thống (vốn, vật tư, máy móc, công nghệ, thông tin…) để đạt được các mục tiêu và mục đích đã đặt ra.
Thứ ba, mục tiêu của quản lý: Mục tiêu quản lý của hầu hết các tổ chức là khai thác và sử dụng hợp lý nhất các nguồn lực để đạt được mục đích với kết quả và hiệu quả cao. Thứ tư, điều kiện quản lý: Hoạt động quản lý được thực hiện trong điều kiện môi trường luôn biến động. Chính vì vậy, sự hiểu biết về môi trường bên ngoài và bên trong của hệ thống và kỹ năng phân tích môi trường là hết sức cần thiết đối với nhà quản lý. * Khái niệm về năng lực quản lý Năng lực quản lý của các nhà quản trị là một khái niệm phức tạp.
Năng lực quản lý là kiến thức và khả năng của cá nhân ở vị trí quản lý để hoàn thành một số hoạt động hoặc nhiệm vụ quản lý cụ thể. Kiến thức và khả năng này có thể được học và rèn luyện. Tuy nhiên, chúng cũng có thể đạt được thông qua việc triển khai thực tế các hoạt động và nhiệm vụ được yêu cầu. Tùy theo tính chất phức tạp, mức độ và phạm vi quản lý mà mỗi chức danh có những yêu cầu về tiêu chuẩn năng lực quản lý khác nhau.2 Hệ thống công trình thủy lợi 8 Thủy lợi được hiểu là việc nghiên cứu khoa học công nghệ, đánh giá, khai thác sử dụng, bảo vệ nguồn tài nguyên nước và môi trường, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai.
Thủy lợi thường được nghiên cứu cùng với hệ thống tiêu thoát nước, hệ thống này có thể là tự nhiên hay nhân tạo để thoát nước mặt hoặc nước ngầm của một khu vực địa lý cụ thể [4] Theo cách hiểu chung nhất thì thủy lợi là những biện pháp nhằm khai thác tài nguyên nước một cách hợp lý nhằm mang lại lợi ích cho cộng đồng. Những biện pháp khai thác nước đó bao gồm: khai thác nước mặt và nước ngầm thông qua các hệ thống bơm hoặc cung cấp nước tự chảy. Sử dụng tài nguyên nước một cách hợp lý có nghĩa là tận dụng nguồn nước để phục vụ lợi ích cộng đồng, đồng thời hạn chế những thiệt hại dosử dụng không hợp lý nguồn nước. Thủy lợi cũng có thể được hiểu là tổng hợp các giải pháp nhằm tích trữ, điều hòa, phân phối, cấp, tưới, tiêu và thoát nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, sản xuất muối; kết hợp cấp, tiêu, thoát nước cho sinh hoạt và các ngành kinh tế khác; góp phần phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo đảm an ninh nguồn nước [5].
Từ khái niệm thủy lợi, chúng ta có thể đưa ra khái niệm Công trình thủy lợi như sau: Công trình thủy lợi là công trình hạ tầng kỹ thuật thủy lợi bao gồm đập, hồ chứa nước, cống, thuỷ lợi bơm, hệ thống dẫn, chuyển nước, kè, bờ bao thủy lợi và công trình khác phục vụ QLKT TL [4]. Hệ thống các công trình thủy lợi có liên quan trực tiếp với nhau về mặt khai thác và bảo vệ nguồn nước trong một khu vực nhất định sẽ tạo thành Hệ thống Công trình thủy lợi. Hệ thống Công trình thủy lợi bao gồm: CT đầu mối, mạng lưới kênh mương, các CT trên kênh. Hệ thống công trình thủy lợi bao gồm các công trình thủy lợi có liên quan trực tiếp với nhau về mặt khai thác và bảo vệ trong một khu vực nhất định.2 Hệ thống văn bản pháp quy về quản lý khai thác công trình thủy lợi Trong thời gian qua, Nhà nước và Bộ NN&PTNT đã ban hành rất nhiều quy định và văn bản hành chính hướng dẫn quản lý, khai thác, sử dụng hệ thống thủy lợi như: 9 - Luật thuỷ lợi số 08/1017 QH14 của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có hiệu lực ngày 01/7/2018; - Nghị định số 201/2013/NĐ-CP của Thủ Tướng Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên nước có hiệu lực ngày 27/11/2013 - Nghị định số 114/2018/NĐ-CP của Thủ Tướng Chính phủ về quản lý an toàn đập hồ chứa nước có hiệu lực kể từ ngày 04/9/2018 - Thông tư số 65/2009/TT-BNNPTNT Hướng dẫn tổ chức hoạt động và phân cấp QLKT CTTL ban hành ngày 12/ 10/ 2009; Thông tư số 11/2009/TT- BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn đặt hàng, giao kế hoạch đối với các đơn vị làm nhiệm vụ QLKT CTTL và quy chế quản lý tài chính của công ty nhà nước làm nhiệm vụ QLKT CTTL ban hành ngày 21/01/2009 đã phản ánh được hoạt động của các đơn vị QLKT CTTL thông qua quản lý nguồn nước và quản lý hạch toán tài chính làm cơ sở cấp bù TL phí.
Hệ thống các văn bản pháp luật nhà nước về quản lý hoạt động, tổ chức doanh nghiệp khai thác CTTL bao gồm: - Thông tư số 113/2007/TT-BTC , Thông tư số 71/2006/TT-BTC của Bộ Tài chính ban hành ngày 09/8/2006 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ- CP của Chính phủ Quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập.