Chương I Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 của Bộ Nội vụ Hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn. Ngoài nhiệm vụ tham mưu, giúp UBND cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo từng lĩnh vực được phân công theo quy định của pháp luật và thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã giao; cán bộ chủ chốt cấp xã còn phải trực tiếp thực hiện các công việc liên quan đến từng nhiệm vụ cụ thể. Năng lực quản lý của cán bộ chủ chốt cấp xã 1. Một số khái niệm liên quan - Khái niệm năng lực Năng lực là một khái niệm rộng, tùy thuộc vào môi trường và trách nhiệm, vị thế của mỗi người, mỗi cán bộ trong những điều kiện cụ thể.
Năng lực, là tổng hợp các đặc điểm, phẩm chất, tâm lý phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định bảo đảm cho hoạt động đó đạt được kết quả; năng lực hình thành một phần dựa trên cơ sở tư chất tự nhiên của cá nhân, một phần lớn dựa trên quá trình đào tạo, giáo dục và hoạt động thực tiễn, cũng như tự rèn luyện của cá nhân. + Theo tác giả Hà Văn Dương: “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; năng lực là những phẩm chất tâm lý, sinh lý tạo cho con người có khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao; mỗi con người có khả năng trong một hoạt động nhất định nào đấy có ích cho xã hội. Nghiên cứu năng lực con người, là nghiên cứu sức lực dự trữ của con người trong lao động hay là tiềm năng của con người đối với lao động” (Hà Văn Dương, 2014). Năng lực thể hiện ở chỗ, con người làm việc tốn ít sức lực, ít thời gian, của cải, mà kết quả lại tốt; việc phát hiện ra năng lực của con người thường căn cứ vào những dấu hiệu sau: sự hứng thú đối với công việc nào đó; sự dễ dàng tiếp thu kỹ năng nghề nghiệp; hiệu suất lao động trong lĩnh vực đó.
+ Theo tác giả Nguyễn Thị Thảo: “Năng lực là khả năng của một người để làm một việc gì đó, để xử lý một tình huống và để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể trong một môi trường xác định” (Nguyễn Thị Thảo, 2014). Nói cách khác năng lực là khả năng sử dụng các tài sản, tiềm lực của con người như kiến thức, kỹ năng và các phẩm chất khác để đạt được các mục tiêu cụ thể trong các điều kiện xác định. Thông thường người ta chỉ rằng năng lực gồm có các thành tố là kiến thức, kỹ năng và thái độ. 12 Từ các khái niệm trên có thể hiểu: Năng lực là sự xã hội hóa tiềm năng, khả năng của con người.
Năng lực không chỉ là tiềm năng, khả năng của con người mà còn là mức độ làm việc và đóng góp của họ cho xã hội. Kết quả và hiệu quả hoạt động là chỉ báo cơ bản và quan trọng nhất để đánh giá năng lực của con người. Năng lực không phải là những thuộc tính cá nhân riêng lẻ mà là một tổ hợp các thuộc tính cá nhân đáp ứng yêu cầu cao của hoạt động. Tổ hợp các thuộc tính đó cùng tồn tại song song và chúng có quan hệ và tác động lẫn nhau thống nhất với nhau theo yêu cầu nhất định.
Năng lực của cán bộ là tổng hợp những yếu tố tạo nên khả năng cá nhân cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ người cán bộ. Năng lực của người cán bộ bao gồm hai mặt chủ yếu: năng lực trí tuệ và năng lực chuyên môn. Năng lực trí tuệ là khả năng nhận thức, tiếp cận tri thức, khả năng nắm bắt, phân tích, đề xuất giải pháp trong hoạt động thực tiễn. Năng lực chuyên môn là tri thức, kỹ năng để hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn của người cán bộ.
Năng lực của người cán bộ chủ yếu được hình thành và phát triển qua quá trình đào tạo, bồi dưỡng và hoạt động thực tiễn. Mỗi thời kỳ cách mạng, khi nhiệm vụ chính trị của Đảng và nhiệm vụ cụ thể của người cán bộ có sự thay đổi thì năng lực của người cán bộ cũng phải có sự thay đổi cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ. - Khái niệm quản lý Từ khi xã hội loài người được hình thành, hoạt động tổ chức, quản lý đã được quan tâm. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động nhằm đạt được hiệu quả cao hơn.
Đó là hoạt động giúp cho người đứng đầu tổ chức phối hợp sự nổ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Trong nghiên cứu khoa học, có rất nhiều quan niệm về quản lý theo những cách tiếp cận khác nhau. Chính vì sự đa dạng về cách tiếp cận, dẫn đến sự phong phú quan niệm về quản lý. Theo nghĩa chung nhất có thể hiểu: Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể 13 quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung.
Bản chất của quản lý là một loại lao động để điều khiển lao động xã hội ngày càng phát triển, các loại hình lao động phong phú, phức tạp thì hoạt động quản lý càng có vai trò quan trọng. - Khái niệm năng lực quản lý của cán bộ chủ chốt cấp xã + Theo tác giả Trần Nhật Duật: “Năng lực quản lý của cán bộ chủ chốt cấp xã là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của người cán bộ chủ chốt cấp xã phù hợp với những yêu cầu hoạt động của họ đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả” (Trần Nhật Duật, 2009). Như vậy, theo tác giả năng lực là những thuộc tính tâm lý cá nhân, cơ sở tự nhiên của năng lực là những đặc điểm sinh lý thần kinh của não và cơ thể, là tư chất và thể lực của cá nhân. Năng lực của con người được phát triển qua học tập, kinh nghiệm.
Cũng theo tác giả, các yếu tố cấu thành năng lực bao gồm: năng lực chuyên môn; năng lực tổ chức; năng lực ra quyết định; năng lực triển khai thực hiện quyết định; năng lực kiểm tra, kiểm soát; năng lực xử lý thông tin và năng lực dự báo, dự đoán. + Theo tác giả Nguyễn Khắc Thành: “Năng lực quản lý của cán bộ lãnh đạo cấp xã là khả năng của lãnh đạo xã tiến hành quá trình tổ chức, điều hành chính quyền cấp xã thực hiện nhiệm vụ, chức năng quản lý trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng ở cơ sở” (Nguyễn Khắc Thành, 2015). Năng lực quản lý của cán bộ lãnh đạo cấp xã được cấu thành bởi những yếu tố kiến thức quản lý, kỹ năng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu nhất định. Từ các khái niệm trên có thể hiểu: Năng lực quản lý của cán bộ chủ chốt cấp xã là khả năng lãnh đạo, quản lý tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trên địa bàn nhằm đạt mục tiêu, kế hoạch đề ra.
Sự cần thiết phải nâng cao năng lực quản lý của cán bộ chủ chốt cấp xã Ở nước nào và vào thời điểm nào cũng vậy, sự thành bại của mọi sự nghiệp hay sự tồn vong, thịnh suy của mọi quốc gia, chế độ đều phụ thuộc rất 14 nhiều vào đội ngũ cán bộ nói chung, trong đó đặc biệt quan trọng là cán bộ chủ chốt. Hiện nay, Việt Nam có 11.162 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 1.567 phường, 597 thị trấn và 9.064 xã, với tổng số trên 222.735 cán bộ, công chức và 317.766 cán bộ không chuyên trách cấp xã. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX ngày 18 tháng 3 năm 2002 “Về đổi mới và nâng cao năng lực quản lý hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn”; cùng với sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền trong những năm qua, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã đã có sự phát triển cả về số lượng và chất lượng. Đặc biệt, từ khi có Luật Cán bộ công chức năm 2008; Luật Viên chức năm 2010; Nghị định số 114/2003/NĐ-CP; Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV; Nghị định số 112/2012/NĐ-CP thì đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã không ngừng được kiện toàn, củng cố, phần lớn được rèn luyện, thử thách trong quá trình công tác, được quan tâm quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm, góp phần giúp hoạt động của hệ thống chính trị nói chung và chính quyền cấp xã nói riêng có chuyển biến tích cực.
Đến nay cơ bản đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã có trình độ chuyên môn, lý luận chính trị và năng lực quản lý để thực hiện các nhiệm vụ được giao, góp phần nâng cao các mặt công tác, khơi dậy được nguồn lực của nhân dân, nâng cao trình độ dân sinh, dân trí, dân chủ ở cơ sở, đời sống nhân dân được nâng lên đáng kể, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng, chính quyền, đảm bảo an ninh, chính trị, quốc phòng ở các địa bàn cấp xã. Tuy nhiên bên cạnh đó, năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã vẫn còn nhiều hạn chế: - Một bộ phận cán bộ chủ chốt cấp xã năng lực còn hạn chế, thiếu năng động, sáng tạo, chậm đổi mới, tư duy lạc hậu, bảo thủ, trì trệ. Một số cán bộ chủ chốt bằng lòng với trình độ chuyên môn hiện có là trung cấp và không 15 muốn đi học để nâng cao trình độ, cho nên có những địa phương khuyết cán bộ chủ chốt nhưng không có nguồn nhân sự tại chỗ thay thế, hoặc có tình trạng không muốn người ngoài địa phương chuyển đến, trong khi nguồn tại chỗ không đảm bảo tiêu chuẩn, đã ảnh hưởng đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh và công tác xây dựng Đảng tại địa phương. - Tinh thần trách nhiệm chưa cao: một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã chưa thật sự gương mẫu trong nhận thức và hành động, thiếu tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ không tốt, có biểu hiện quan liêu, hách dịch, xa rời thực tế, xa dân, gây phiền hà cho nhân dân, nói nhiều làm ít, làm việc không có kế hoạch, cục bộ địa phương.