phần mở đầu, kiến nghị và kết luận, luận văn được kết cấu gồm 3 chương, 7 tiết. 9 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CHI BỘ TỔ DÂN PHỐ 1. Chi bộ tổ dân phố - quan niệm, đặc điểm, vai trò, chức năng, nhiệm vụ 1. Quan niệm, đặc điểm tổ dân phố và Chi bộ tổ dân phố 1.
Tổ dân phố Tổ dân phố là một tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư Việt Nam. Tổ dân phố có hai đặc trưng cơ bản: tính cộng đồng và tính tự trị, đây là một cộng đồng dân cư chung nhau một địa bàn cư trú trong một phường, nơi mà người dân bao gồm các đối tượng trẻ em, người lớn, người cao tuổi. có thể thực hiện quyền dân chủ của mình một cách rộng rãi và trực tiếp nhằm phát huy sức mạnh của hoạt động tự quản, tổ chức cho nhân dân thực hiện các đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp Trung ương Đảng khoá IX “Về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn” quy định: Thôn, làng, ấp, bản, sóc (gọi chung là thôn) là địa bàn quan trọng để phát huy các hình thức tự quản của cộng đồng dân cư trên cơ sở quan hệ truyền thống gắn bó trong đời sống vật chất và văn hoá.
Khu phố hoặc tổ dân phố (tổ chức dưới phường) cũng có điều kiện và khả năng thực hiện một số hoạt động tự quản như giúp đỡ nhau sản xuất, giảm nghèo, bảo thọ, xây dựng đời sống văn hoá, phòng chống các tệ nạn xã hội, giữ gìn trật tự, vệ sinh, môi trường. Thôn, khu phố hoặc tổ dân phố không phải là một cấp hành chính. Trưởng thôn, trưởng khu phố hoặc tổ trưởng dân phố do dân trực tiếp bầu vừa là người đại diện cho dân, vừa là người đại diện cho chính quyền xã, phường, thị trấn để thực hiện một số nhiệm vụ hành chính tại thôn, khu phố, tổ dân phố. Ở những nơi đông đồng bào dân tộc thiểu số phải coi trọng vai trò của già 10 làng, vận động nhân dân bầu già làng có điều kiện làm trưởng thôn, trưởng bản.
Hoặc theo khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 2 Thông tư 04/2012/TT- BNV, thôn, tổ dân phố được định nghĩa như sau: Thôn, làng, ấp, bản, buôn, bon, phum, sóc. (gọi chung là thôn); thôn được tổ chức ở xã; dưới xã là thôn. Tổ dân phố, khu phố, khối phố, khóm, tiểu khu. (gọi chung là tổ dân phố); tổ dân phố được tổ chức ở phường, thị trấn; dưới phường, thị trấn là tổ dân phố.
Thôn, tổ dân phố không phải là một cấp hành chính mà là tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư có chung địa bàn cư trú trong một khu vực ở một xã, phường, thị trấn (xã, phường, thị trấn sau đây gọi chung là cấp xã); nơi thực hiện dân chủ trực tiếp và rộng rãi để phát huy các hình thức hoạt động tự quản, tổ chức nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ cấp trên giao. Theo đó, mỗi thôn sẽ có Trưởng thôn, mỗi tổ dân phố sẽ có Tổ trưởng Tổ dân phố. Chi bộ tổ dân phố * Quan điểm, tư tưởng của học thuyết Mác – Lênin Ngay từ khi xây dựng tổ chức cộng sản đầu tiên của giai cấp công nhân, C.Ăngghen đã có những quan điểm về chi bộ Đảng. Trong điều lệ của “Liên đoàn những người cộng sản” (1847 – 1852) cải tổ từ “Đồng minh những người chính nghĩa” C.Ăngghen đã nêu lên khá đầy đủ những quan điểm và tư tưởng cơ bản về xây dựng Đảng “về cơ cấu, liên đoàn, liên đoàn, chi bộ, khu phố, tổng bộ, Ban chấp hành trung ương và Đại hội”.
Đối với tổ chức và hoạt động của Liên đoàn cũng được quy định hết sức chặt chẽ: Để trở thành hội viên của Liên đoàn, ngoài các điều kiện cần, 11 còn nhất thiết phải có “được một chi bộ nhất trí kết nạp”, “việc kết nạp hội viên mới của liên đoàn do chủ tịch chi bộ và hội viên giới thiệu của liên đoàn tiến hành, với điều kiện là đã có sự đồng ý trước của chi bộ” 10, tr. Điều đó cho thấy, hội viên của Liên đoàn phải sinh hoạt ở một tổ chức cấp cơ sở của Liên đoàn đó là chi bộ. Hơn nữa, điều lệ không những quy định đối với hội viên mà còn có cả đối với tổ chức của chi bộ: “Chi bộ gồm ít nhất là 3 và nhiều nhất là 20 hội viên của liên đoàn”, “…… sống trong cùng một địa phương”. Đối với lãnh đạo và cơ quan lãnh đạo của liên đoàn được tiến hành dân chủ, lãnh đạo kịp thời và bắt đầu từ chi bộ.
Những tư tưởng và quan điểm cơ bản của C.Ăngghen, được VI.Lênin lấy làm cơ sở, vận dụng, phát triển có sáng tạo thành hệ thống những tư tưởng, quan điểm về Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân Nga. Cơ sở của Đảng vô sản của nước Nga là “liên minh đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân” do V.Lênin thành lập năm 1858. Trong tác phẩm “về việc cải tổ Đảng” và nhiều tác phẩm khác của Người, cũng như trong bài báo “Đi vào con đường thẳng”, Người đã thể hiện tư tưởng xuyên suốt là các chi bộ Đảng ở các công xưởng, nhà máy là nền tảng, trên đó cả tòa nhà của Đảng Bônsêvích được xây dựng. Lênin đã nhấn mạnh và đặc biệt quan tâm đến việc thành lập chi bộ Đảng công nhân dân chủ - xã hội Nga ở nhà máy, công xưởng, các địa phương và coi trọng việc xây dựng các chi bộ đã trở thành hạt nhân lãnh đạo ở cơ sở.
Những chi bộ Đảng ở các địa phương và nhất là ở các nhà máy dưới sự lãnh đạo của các phần tử tiên tiến xuất thân ngay từ hàng ngũ công nhân và sâu sát với quần chúng. Đó là cơ sở mà trên đó chúng ta đã xây dựng và xây dựng hạt nhân vững chắc không gì lay chuyển nổi của phong trào công nhân cách mạng và dân chủ - xã hội. 12 Tại Hội nghị lần thứ VIII toàn Nga của Đảng Cộng sản Nga (đây là hội nghị đầu tiên sau khi cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi và chính quyền Xô Viết được thành lập), Điều lệ Đảng đã được bổ sung và khẳng định: “Cơ sở của tổ chức Đảng là chi bộ Đảng”. Điều lệ còn nói rõ: “Các chi bộ được thành lập ở các xí nghiệp, các làng, các đơn vị Hồng quân và các cơ quan”.
* Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam Sau hơn 90 năm xây dựng và trưởng thành, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn trung thành với những tư tưởng, quan điểm cơ bản của học thuyết Mác- Lênin về Đảng. Ngay từ đầu, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ ràng hệ thống tổ chức của Đảng thông qua Điều lệ đầu tiên “Chi bộ gồm tất cả các đảng viên trong một nhà máy, một công xưởng, một hầm mỏ, một sở xe lửa, một chiếc tàu, một đồn điền, một đường phố…. Cùng với việc vận dụng những quan điểm tư tưởng và quan điểm đó một cách sáng tạo, phù hợp với điều kiện thực tế của nước ta, Đảng cộng sản Việt Nam vẫn luôn thường xuyên tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, khái quát lên tầm lý luận, bổ sung làm phong phú thêm kho tàng lý luận Mác – Lênin về xây dựng Đảng. Hiện nay, chi bộ tổ dân phố hay còn gọi là Chi bộ trực thuộc Đảng bộ cơ sở được quy định tại Điều 24 Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam như sau: Chi bộ trực thuộc Đảng ủy cơ sở được tổ chức theo nơi làm việc hoặc nơi ở của đảng viên; mỗi chi bộ ít nhất có 3 đảng viên chính thức.
Chi bộ đông đảng viên có thể chia thành nhiều tổ đảng; tổ đảng bầu tổ trưởng, nếu cần thì bầu tổ phó; tổ đảng hoạt động dưới sự chỉ đạo của chi ủy. Chi bộ lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị; giáo dục, quản lý và phân công công tác cho đảng viên; làm công tác vận động quần chúng và công tác phát triển đảng viên; kiểm tra, giám sát thi hành kỷ luật đảng viên; thu, nộp đảng phí. Chi bộ, chi ủy họp thường lệ mỗi tháng một lần. 13 Đại hội chi bộ do chi ủy triệu tập năm năm hai lần; nơi chưa có chi ủy thì do bí thư chi bộ triệu tập.
Khi được đảng ủy cơ sở đồng ý có thể triệu tập sớm hoặc muộn hơn, nhưng không quá sáu tháng. Chi bộ có dưới chín đảng viên chính thức, bầu bí thư chi bộ; nếu cần, bầu phó bí thư. Chi bộ có chín đảng viên chính thức trở lên, bầu chi ủy, bầu bí thư và phó bí thư chi bộ trong số chi ủy viên. Theo đó, mỗi chi bộ được xác định là một tế bào cấu thành cơ thể sống của Đảng, là yếu tố đảm bảo cho sự phát triển bền vững của toàn Đảng; là hạt nhân chính trị ở cơ sở; trực tiếp đưa đường lối, chủ trương của Đảng vào quần chúng và tổ chức thực hiện đường lối ấy.
Chi bộ cũng là nơi thường xuyên sâu sát, gắn bó mật thiết với quần chúng, trực tiếp nắm, giải quyết tâm tư, nguyện vọng chính đáng của quần chúng; nơi hàng ngày đảng viên sinh hoạt, học tập, chiến đấu, là trường học giáo dục, rèn luyện đảng viên, nơi sàng lọc đảng viên và giới thiệu quần chúng ưu tú cho Đảng. Theo hướng tiếp cận trên, có thể quan niệm: Chi bộ tổ dân phố là một bộ phận tổ chức của Đảng, trực thuộc đảng bộ cơ sở phường, là tế bào nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở; nơi trực tiếp đưa đường lối của Đảng vào cuộc sống, nơi kiểm nghiệm tính đúng đắn của đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và cung cấp cơ sở thực tiễn để bổ sung, phát triển hoàn thiện đường lối; trực tiếp phân công nhiệm vụ, quản lý, giáo dục, rèn luyện, phát triển và sàng lọc đội ngũ đảng viên cơ sở, trực tiếp góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng ở cơ sở. Vai trò của Chi bộ tổ dân phố Trong quá trình xây dựng Đảng, Đảng ta luôn xác định chi bộ tổ dân phố có vị trí và vai trò vô cùng quan trọng, là hạt nhân chính trị ở địa bàn dân cư, là cầu nối quan trọng giữa Đảng với quần chúng, vận động quần chúng thực hiện đường lối, chính sách của Đảng.