Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao năng lực công chức. 3 z Chương 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng năng lực công chức của Chi cục thuế Đan Phƣợng, Hà Nội. Chương 4: Giải pháp nâng cao năng lực công chức của Chi cục thuế Đan Phƣợng, Hà Nội.
4 z CHƢƠNG 1 : TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CÔNG CHỨC 1. Tổng quan tài liệu CBCC nhà nƣớc nói chung và CBCC thuế nói riêng là vấn đề đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu, nhiều nhà quản lý quan tâm, tìm hiểu. Từ khi nƣớc ta chuyển đổi từ mô mình kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang cơ chế thị trƣờng, thực hiện công cuộc cải cách hành chính nhà nƣớc thì nâng cao chất lƣợng CBCC là đề tài đƣợc đề cập đến nhiều trong các hoạt động nghiên cứu khoa học và quản lý thực tiễn. Thời gian gần đây, ngành thuế đã thực hiện cải cách hành chính đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển, vấn đề nâng cao năng lực trình độ của công chức thuế trở nên cấp thiết và đã thu hút đƣợc nhiều công trình nghiên với các góc độ và phạm vi tiếp cận khác nhau.
Một số công trình tiêu biểu nhƣ: Trần Hải Minh (2012), Vận dụng mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong xây dựng công chức nhà nước ở Việt Nam hiện nay. Luận văn Thạc sĩ, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Luận văn đã tiếp cận nội dung xây dựng công thức nhà nƣớc từ góc độ vận dụng mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật. Tác giả đã nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa đạo đức và pháp luật và chỉ ra những mâu thuẫn hiện nay cần giải quyết trong công tác xây dựng công chức nhƣ mâu thuẫn giữa mặt trái của cơ chế thị trƣờng với yêu cầu xây dựng công chức nhà nƣớc trong sạch; mâu thuẫn giữa thu nhập còn hạn chế của công chức với yêu cầu ngày càng cao của chất lƣợng công vụ.
Từ đó tác giả đã đƣa ra một số giải pháp xây dựng công chức nhà nƣớc gồm: tăng cƣờng sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nƣớc đối với công chức nhà nƣớc; phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu kinh nghiệm thế giới; hoàn thiện hệ thống pháp luật về công chức và hệ thống chuẩn mực đạo đức công chức; phát huy tính tích cực, tự giác trong nâng cao trách nhiệm đạo 5 z đức thực thi công vụ và ý thức pháp luật của công chức nhà nƣớc. Tuy nhiên, đề tài của tác giả chƣa đi sâu nghiên cứu vào năng lực của đội ngũ CBCC và biện pháp nâng cao năng lực của đội ngũ này. Nguyễn Thị Mỹ Dung (2012), “Quản lý thuế ở Việt Nam: Hoàn thiện và đổi mới”, Tạp chí Phát triển và Hội nhập, số 7/2012. Nghiên cứu nêu ra một số hạn chế về đội ngũ cán bộ thuế nhƣ: đại bộ phận cán bộ thuế hiện nay chƣa có kỹ năng chuyên sâu, khả năng ứng dụng các tiến bộ công nghệ tin học vào quản lý thuế chƣa phù hợp với yêu cầu quản lý hiện đại và yêu cầu cải cách hành chính thuế, thậm chí một bộ phận cán bộ quản lý thuế chƣa nắm vững và thực hiện tốt các chính sách thuế và quy trình biện pháp nghiệp vụ quản lý thuế hiện hành.
Thái độ và phong cách ứng xử của một bộ phận cán bộ thuế chƣa thật tận tụy, công tâm, khách quan, văn minh, lịch sự, chƣa coi đối tƣợng nộp thuế là khách hàng quan trọng nhất để nâng cao chất lƣợng phục vụ, chƣa trở thành ngƣời bạn đồng hành của đối tƣợng nộp thuế trong việc thực hiện các luật thuế, thậm chí có biểu hiện thiếu tinh thần trách nhiệm. Nhƣng nghiên cứu của tác giả ở tầm vĩ mô, mới chỉ khái quát đƣợc các hạn chế của đội ngũ CBCC thuế chứ chƣa đi sâu phân tích và chƣa có số liệu để minh chứng. Ban chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ, 2014. Năng lực, hiệu quả, hiệu lực quản lý hành chính nhà nước; thực trạng nguyên nhân và giải pháp.
Đề tài này đã tập trung nghiên cứu về hiệu lực quản lý hành chính nhà nƣớc, trong đó đã đặt công chức nhà nƣớc trong mối quan hệ với việc nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nƣớc. Đề tài đã khẳng định: Hiệu lực của nền hành chính phụ thuộc trực tiếp vào năng lực, chất lƣợng của nền hành chính (tổng hợp các yếu tố thể chế, tổ chức bộ máy, đội ngũ công chức). Nhƣ vậy, việc xây dựng và không ngừng hoàn thiện đội ngũ CBCC là một yếu tố đặc biệt quan trọng đối với hiệu quả của nền hành chính nhà nƣớc. Tuy 6 z nhiên, do phạm vi nghiên cứu của đề tài rộng nên đề tài cũng mới chỉ đề cập một cách khái quát đến việc nâng cao chất lƣợng đội ngũ CBCC, các tiêu chí đánh giá chƣa đƣợc đề cập.
Đỗ Minh Luyên (2013), Nâng cao năng lực của đội ngũ CBCC do Huyện ủy quản lý trên địa bàn Huyện Khoái Châu, Tỉnh Hƣng Yên, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Nông nghiệp, Hà Nội. Luận văn đã hệ thống hóa đƣợc cơ sở lý luận về CBCC, công vụ và năng lực của hệ thống CBCC hành chính. Xây dựng đƣợc bộ tiêu chí đánh giá năng lực của đội ngũ CBCC gồm 3 nhóm tiêu chí: nhóm tiêu chí đánh giá về chất ( khả năng giải quyết nhiệm vụ đƣợc giao, sáng tạo trong công việc…), nhóm tiêu chí về lƣợng ( so sánh khối lƣợng công việc thực hiện tốt trên tổng số công việc đƣợc giao) và các tiêu chí phản ánh nguyên nhân ( cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công việc, điều kiện phát triển của cán bộ…) và các biện pháp nâng cao chất lƣợng đội ngũ CBCC về công tác tuyển dụng, đào tạo, bồi dƣỡng, khen thƣởng, kỷ luật công chức….Đây là nghiên cứu có nhiều nội dung có thể học hỏi và vận dụng cho việc nghiên cứu luận văn của Học viên. Tuy nhiên, luận văn của tác giả mới chỉ đề cập đến việc nâng cao chất lƣơng đội ngũ CBCC nhà nƣớc nói chung chứ chƣa đi sâu phân tích việc nâng cao năng lực của công chức thuế.
Đề tài Chu Xuân Khanh (2010) “Hoàn thiện việc xây dựng công chức hành chính nhà nước chuyên nghiệp ở Việt Nam”. Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh. Đề tài đã nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia có nền công vụ tiên tiến trên thế giới và qua phân tích thực trạng công chức hành chính nhà nƣớc ở Việt Nam tìm ra nguyên nhân ảnh hƣởng tiêu cực đến tính chuyên nghiệp của công chức hành chính ở Việt Nam. Từ đó tác giả cũng đề xuất các phƣơng hƣớng và giải pháp để hoàn thiện việc xây dựng công chức hành chính.
Đề tài của tác giả mới đề cập đƣợc một số tiêu chí đánh giá chất lƣợng đội ngũ CBCC, về công tác nâng cao 7 z chất lƣợng đội ngũ CBCC trong cơ quan hành chính nhà nƣớc thì chƣa đƣợc đề cập nghiên cứu một cách chính thức, rõ ràng. Trong thời gian qua đã có nhiều nghiên cứu tại địa bàn Huyện Đan Phƣợng nhƣ: hai luận văn của Nguyễn Thị Kim Oanh (2015), Quản lý thuế đối với các doanh nghiệp tại Chi cục thuế Đan Phượng, Hà Nội. Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội và Đặng Viết Hùng (2015), Quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế Đan Phượng, TP Hà Nội. Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Trong hai luận văn này, tác giả đã nêu đƣợc một số đặc điểm về địa lý, tình hình kinh tế xã hội, thực trạng của công tác quản lý thuế tại địa bàn học viên nghiên cứu nên có nhiều nội dung học viên có thể tham khảo và vận dụng. Tuy nhiên đề tài của tác giả lại tập trung đi sâu nghiên cứu công tác quản lý thuế nên đề vấn đề công chức thuế trong luận văn mới chỉ nêu sơ qua trong phần giải pháp nhƣ: bố trí sắp xếp cán bộ phù hợp, tạo mọi điều kiện cho cán bộ tham gia các khoá đào tạo, tập huấn nghiệp vụ chuyên môn để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong công tác quản lý thuế. chứ không đi sâu phân tích năng lực, trình độ của công chức thuế tại địa bàn Huyện Đan Phƣợng. Các nghiên cứu trên đây đã đề cập đến nhiều nội dung khác nhau về CBCC hành chính Nhà nƣớc cũng nhƣ công chức thuế.
Tuy nhiên mỗi thời kỳ khác nhau thì các tiêu chí đánh giá, các yếu tố ảnh hƣởng cũng khác nhau dẫn đến nội dung để nâng cao năng lực công chức thuế sẽ khác nhau. Mặt khác mỗi công trình đều có phạm vi nghiên cứu nhất định do đó chỉ có thể tham khảo. Hơn nữa tính đến thời điểm hiện nay thì chƣa có một nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề nâng cao năng lực công chức thuế tại Chi cục thuế Đan Phƣợng, TP Hà Nội. Đề tài này vì thế có thể bổ sung cho những công trình đã có, để nghiên cứu một trƣờng hợp cụ thể là Chi cục thuế Đan Phƣợng, Hà Nội.
Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao năng lực công chức 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Công vụ Trong cuốn Tài liệu bồi dưỡng của ngạch kiểm tra viên thuế, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội, 2014 thì “Công vụ là một loại hoạt động mang tính quyền lực pháp lý được thực thi bởi đội ngũ CBCC Nhà nước hoặc những người khác khi được nhà nước giao quyền, nhằm thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước trong quá trình quản lý toàn diện các mặt của hoạt động của đời sống xã hội. Công vụ là phục vụ Nhà nước, phục vụ nhân dân, gắn với quyền lực Nhà nước”.
Hoạt động công vụ không chỉ đơn thuần mang tính quyền lực nhà nƣớc mà còn bao gồm cả hoạt động của các tổ chức do nhà nƣớc thành lập (đƣợc nhà nƣớc ủy quyền) để phục vụ các nhu cầu của nhân dân. Các hoạt động này đều do CBCC nhân danh nhà nƣớc tiến hành. Ở các nƣớc trên thế giới, khi đề cập đến công vụ, ngƣời ta ít nói đến yếu tố quyền lực nhà nƣớc mà thƣờng chỉ nói đến công chức nhân danh pháp luật hoặc nhân danh nhà nƣớc mà thôi. Còn ở Việt Nam do đặc thù về thể chế chính trị nên hoạt động công vụ còn bao gồm cả hoạt động của CBCC trong các cơ quan của Đảng, của tổ chức chính trị - xã hội và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập.