Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC NGÀNH CHỈ HUY THAM MƯU LỤC QUÂN THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC Ở TRƯỜNG SĨ QUAN LỤC QUÂN TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Công trình nghiên cứu về đào tạo trong cơ sở giáo dục đại học theo tiếp cận năng lực Trong những năm gần đây, để nâng cao chất lượng ĐT, nhiều nhà nghiên cứu giáo dục trên toàn cầu đã tập trung vào nghiên cứu về quản lý quá trình ĐT, trong đó có nhiều nhà nghiên cứu đồng thuận rằng quản lý ĐT theo tiếp cận năng lực là cần thiết. Các nghiên cứu về tiếp cận năng lực trong ĐT nghề đã được phát triển mạnh mẽ từ những năm 1990, đặc biệt là tại Mỹ, Anh, Úc, New Zealand, và xứ Wales.
Sự phát triển này được thúc đẩy bởi quan điểm rằng tiếp cận năng lực là cách tiếp cận có ảnh hưởng nhất để cân bằng giáo dục và ĐT với nhu cầu thực tế của người lao động, đồng thời chuẩn bị cho lực lượng lao động phù hợp với nền kinh tế toàn cầu trong thế kỷ 21. Khi tổng hợp các lý thuyết về tiếp cận dựa trên năng lực trong giáo dục và ĐT, Paprock (1996) đã chỉ ra những đặc điểm cơ bản của tiếp cận này: đặt người học vào trung tâm của quá trình HT, đáp ứng các yêu cầu của chính sách, hướng đến cuộc sống thực tế, linh hoạt và năng động, và xác định rõ ràng tiêu chuẩn năng lực. Các đặc điểm này dẫn đến những ưu điểm của tiếp cận năng lực như: tạo điều kiện cho HT cá nhân hóa, tập trung vào kết quả đầu ra, linh hoạt trong việc đạt được kết quả dựa trên điều kiện và khả năng của từng cá nhân, và giúp xác định rõ ràng những gì cần đạt được và tiêu chuẩn đo lường kết quả [96]. Các mô hình năng lực và việc xác định các năng lực đang được sử dụng như công cụ quan trọng để phát triển chương trình giáo dục và ĐT tại một số quốc gia trên thế giới, nhờ vào những đặc điểm và ưu điểm của tiếp cận năng lực.
Trong nghiên cứu về phát triển chương trình ĐT dựa trên mô hình năng lực, Boyatzis et al. cùng với Whetten và Cameron (1995) đã nhấn mạnh ba nội dung 9 chính cần thiết, bao gồm: 1) Xác định các năng lực; 2) Phát triển các năng lực; và 3) Đánh giá các năng lực một cách khách quan. [108] Trong các cơ sở giáo dục trên thế giới và Việt Nam, một số các nhà KHGD trên thế giới đã nghiên cứu về quản lý quá trình ĐT trong nhà trường để nâng cao chất lượng ĐT; theo đó, nhiều nhà KH cho rằng QLĐT theo tiếp cận NL có rất nhiều những ưu việt để mang lại kết quả cao trong nhà trường. Trong GDĐH, mục tiêu hướng đến là NL nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp cho người học; đó là các phẩm chất, đặc điểm, kỹ năng và kiến thức tạo nên NL nghề nghiệp vừa tổng quát vừa chuyên biệt.
Burke (1995) trong tài liệu <Giáo dục và ĐT dựa vào NL thực hiện= đã trình bày những khởi điểm của ĐT dựa trên NL thực hiện, quan niệm về NL thực hiện và tiêu chuẩn NL thực hiện, về vấn đề đánh giá dựa trên NL thực hiện và điều chỉnh, cập nhật CTĐT theo hướng phát triển NL người học. Trong cuốn <Các kỹ thuật đánh giá dựa trên NL thực hiện= (1995), tác giả Shirley Fletcher tập trung phân tích sự khác biệt, tính ưu việt về ĐT dựa vào NL ở Anh và Mỹ, các nguyên tắc và TH đánh giá theo tiêu chuẩn và sử dụng đánh giá dựa vào NL, việc thiết lập các tiêu chí cho quá trình triển khai thực hiện ĐT, thu thập bằng chứng cho đánh giá NL thực hiện. Tuy nhiên, tác giả tập trung nhiều vào nghiên cứu đánh giá dựa trên NL thực hiện, một khâu quan trọng của quá trình ĐT [97]. Sau đó, trong công trình<Thiết kế ĐT dựa trên NL thực hiện= (1997), tác giả Shirley Fletcher đề cập và phân tích cơ sở KH của việc xây dựng các tiêu chuẩn ĐT, cũng như kỹ thuật phân tích nhu cầu người học và phân tích công việc, xây dựng CT theo mô đun [97].
Ở một số nước châu Á như Singapore, Ấn Độ, Philippines, Malaysia,… phương thức ĐT dựa vào NL thực hiện cũng đã được vận dụng ở các mức độ khác nhau trong CTĐT theo NL thực hiện cho các trường chuyên nghiệp, trường nghề và trường kỹ thuật [107]. Tác giả Thomas Deissinger và Slilke Hellwig, nhà KH Đức (2011), trong tài liệu: <Structures and functions of competency-based education and training= (Cấu trúc và chức năng của ĐT dựa vào NL) đã đưa ra các quan điểm về cấu 10 trúc và chức năng của CTĐT dựa vào NL thực hiện. Việc xây dựng CTĐT và kiểm định CT trước khi đưa vào thực thi [106]. Tác giả Leesa Wheelaha trong công trình <The problem with competency - based training, Educating for the knowledge economy: critical perspectives?= (Vấn đề về ĐT dựa vào NL trong nền kinh tế tri thức: các triển vọng?) [99] đã phát triển quan điểm thực tế khác về ĐT dựa vào NL, đó là kiến thức của người học phải được đặt vào vị trí trung tâm của ĐT, song ĐT dựa vào NL nếu chỉ kiến thức thì chưa đủ.
CT được phát triển theo tiếp cận NLTH có một số kế hoạch như: ĐT nghề, xây dựng đội ngũ GV, tuyển dụng GV trợ giảng, xây dựng cơ sở vật chất, đây là kết quả nghiên cứu của tác giả Tian Ye, nhà KHGD Trung Quốc đã đề cập đến CT phát triển NL thực hiện cho GV trong các cơ sở ĐT nghề ở Bắc Kinh, Trung Quốc, đây là một trong những dự án đặc biệt của chính quyền địa phương nhằm mục đích cải thiện việc giảng dạy ở bậc chuyên nghiệp. Qua khái quát một số công trình nghiên cứu cho thấy, ĐT dựa và NL, NL thực hiện là một xu hướng đã được nhiều quốc gia, nhiều nhà KH quan tâm nghiên cứu ở nhiều góc độ, mức độ khác nhau; và cách tiếp cận này được ứng dụng vào ĐT, dạy học ở các trường ĐH, cao đẳng, chuyên nghiệp và dạy nghề. LT về ĐT theo tiếp cận NL dựa vào NL, NL thực hiện được vận dụng phù hợp điều kiện hoàn cảnh của các nước, kể cả trong các trường ĐH trong quân đội. Như vậy, ĐT, xây dựng CTĐT theo tiếp cận NL ở trường ĐH là cơ sở của QLĐT theo hướng tiếp cận này; và kết quả các công trình nghiên cứu về QLĐT trình độ ĐH theo tiếp cận NL cũng trên cơ sở của ĐT ĐH được dựa theo hướng tiếp cận này.
Công trình nghiên cứu về quản lý đào tạo theo tiếp cận năng lực trong cơ sở giáo dục đại học Năm 1997, Shirley Fletcher trong cuốn <Desiging Competence Based training= – =Thiết kế CTĐT dựa trên NL= [97], tác giả đã đã đề cập đến cơ sở KH để thiết lập tiêu chuẩn ĐT, các kỹ thuật phân tích nhu cầu người học và công việc, xây dựng mô đun dạy học và khung CTĐT. Những ưu điểm, đặc tính của QLĐT theo tiếp cận NL, các mô hình NL, 11 những NL đầu ra được xác định và sử dụng như là công cụ để phát triển CT giáo dục, ĐT của một số nước trên thế giới. Các kết quả nghiên cứu trên là tiền đề lý luận hết sức quan trọng trong nền giáo dục mới; và có ý nghĩa phương pháp luận trong QLĐT theo tiếp cận NL; và đó là cơ sở lý luận quan trọng, cần kế thừa và phát triển trong thực tiễn QLĐT trình độ ĐH theo tiếp cận NL, kể cả trường quân đội. Ở Việt Nam trong một vài năm gần đây, trong các cơ sở GDĐH trong các nước đã có nhiều công trình luận án về QLĐT theo tiếp cận NL, NL thực hiện đã được công bố, tác giả có thể đề cập đến một số công trình nghiên cứu sau: Một số luận án tiến sĩ liên quan đến công tác QLĐT như: luận án của Nguyễn Ngọc Hùng (2006) với đề tài <Quản lý dạy học TH theo tiếp cận NL TH cho sinh viên sư phạm kỹ thuật=: Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận của quản lý dạy học TH (QLDHTH) theo tiếp cận NL thực hiện (NLTH) cho sinh viên sư phạm kỹ thuật, trong đó trình bày rõ thực trạng quản lý dạy học TH ở các trường SPKT như: vấn đề ĐT GV nêu rõ những yếu kém và nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả ĐT.
Từ đó đưa ra các giải giáp đổi mới quản lý mục tiêu CT DHTH tiếp cận NLTH; đổi mới quản lý cho đội ngũ GV chuyên ngành kỹ thuật; đổi mới luyện tập cho sinh viên SPKT [40]; Luận án của Đào Thị Thanh Thuỷ (2012), QLĐT nhân lực kỹ thuật đáp ứng nhu cầu phát triển các khu công nghiệp vùng kinh tế trọng điểm miền Trung= [69], Luận án đã đề xuất 6 giải pháp: 1) Xác định nhu cầu ĐT NLKT của các KCN; 2) Lập kế hoạch và thiết kế ĐT; 3) Tổ chức liên kết ĐT giữa Nhà trường và Doanh nghiệp trong KCN; 4) Đánh giá kết quả ĐT và giới thiệu việc làm cho HS/SV tốt nghiệp; 5) Thiết lập mối liên kết giữa các CSDN trong cùng địa bàn, địa phương; 6) Thành lập Hội đồng điều phối ĐT NLKT cấp vùng. Những giải pháp này góp phần đổi mới công tác quản lý đào tạo nghề từ vi mô đến vĩ mô, với mục đích đào tạo đáp ứng nhu cầu về NLKT cho nhu cầu phát triển của các KCN vùng KTTĐ miền Trung; luận án của Phạm Minh Phương (2013) về <QLĐT nhân lực tại doanh nghiệp may Việt Nam trong giai đoạn hiện nay= [61]. Những luận án này đã trình bày cơ sở lý luận và thực trạng của QLĐT nhân lực nói chung và QLĐT nghề nói riêng, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác dạy nghề và đưa ra một số giải pháp góp 12 phần đổi mới công tác quản lý nhà nước, QLĐT và quản lý dạy học nghề, với mục đích <sản phẩm của quá trình ĐTN= đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp, thị trường lao động và xã hội. Các tác giả Phùng Xuân Nhạ và Vũ Anh Dũng (2011) trong sách <Xây dựng và tổ chức CTĐT ĐH và sau ĐH theo cách tiếp cận CDIO= [53] đã đề xuất quy trình xây dựng CTĐT theo tiếp cận CDIO.