Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan các công trình khoa học tiêu biểu có liên quan đến đề tài luận án 1. Những công trình khoa học tiêu biểu có liên quan đến tư duy, tư duy sáng tạo và phát triển tư duy sáng tạo Những công trình ở nước ngoài: Tác giả I. Lecne với công trình “Dạy học nêu vấn đề” [46] đã chỉ ra bản chất tư duy: “Tư duy, nhằm mục đích nhận thức thế giới, là quá trình xác lập những liên hệ giữa các tri thức về thực tại và xây dựng những tri thức mới” [46, tr.
Tác giả cho rằng, có hai kiểu tư duy cá nhân: một kiểu là tư duy tái tạo cái đã biết, đã gặp; kiểu kia là tư duy sáng tạo, tức là tư duy để tìm ra cái mới. Quá trình sáng tạo của tư duy có các đặc trưng: có sự tự lực chuyển các tri thức và kỹ năng sang một tình huống mới; nhìn thấy những vấn đề mới trong các điều kiện quen biết “đúng quy cách”; nhìn thấy chức năng mới của đối tượng quen biết; nhìn thấy cấu trúc của đối tượng đang nghiên cứu. Trong công trình “Những vấn đề cơ bản của triết học” [30], tác giả S. Frost nhận định: “Tất cả chúng ta đều có những ý tưởng hoặc những tư duy, chúng ta nhìn thấy thế giới xung quanh và nhớ những gì chúng ta nhìn thấy.
Chúng ta đưa ra những sự suy luận từ thực tế mà chúng ta cảm nhận, rút ra kết luận và biến chúng thành nền tảng cơ sở cho hành động của chúng ta. Chúng ta đã cho rằng “con người” là sinh vật sống biết tư duy” [30, tr. Tác giả phân tích, có một số công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng tư duy sáng tạo tiến lên nhờ ba giai đoạn: Giai đoạn chuẩn bị, người tư duy sẽ nghiên cứu vấn đề của mình một cách cẩn thận và thu thập dữ liệu thích đáng về nó; giai đoạn ấp ủ những dữ liệu này; giai đoạn cá nhân cảm nhận sự lóe lên của một luan an 11 giả thuyết về giải pháp có thể, giả thuyết này được kiểm định cả về trí tuệ và thực tế để phát hiện xem nó có đầy đủ hay không. Trong công trình “Những cơ sở của tâm lý học sư phạm” [10], tác giả V.
Cruchetxki từ góc độ tiếp cận của tâm lý học đã đưa ra ba cấp độ của tư duy, đó là những cấp độ tư duy khác nhau, có mối quan hệ biện chứng, cấp độ tư duy này làm tiền đề cho cấp độ tư duy kia. Tác giả luận giải mối quan hệ giữa các khái niệm: “tư duy tích cực”, “tư duy độc lập” và “tư duy sáng tạo”. Tác giả quan niệm, tư duy sáng tạo là sự kết hợp cao nhất, hoàn thiện nhất của tư duy độc lập và tư duy tích cực. Tư duy sáng tạo không phụ thuộc vào cái đã có, tính độc lập của nó biểu hiện ở việc đạt mục đích cũng như giải pháp.
Tác giả Zeng Hua với công trình “Tự đột phá mình, bí quyết tư duy của những người thành đạt” [37] cho rằng, thế giới hiện nay đang biến đổi rất mạnh mẽ, phương thức tư duy của con người cũng đòi hỏi phải có sự đột phá mới có thể theo kịp bước đi của thời đại. Theo tác giả, tư duy sáng tạo là thành quả riêng có của loài người. Tư duy sáng tạo khác với tư duy dạng bảo thủ là nó đột phá quy phạm của tư duy truyền thống, không bị ràng buộc, có tính mới mẻ và tính sáng tạo; là “hoạt động tư duy dùng phương thức mới để giải quyết vấn đề,…, mang tính chủ động, tính đặc biệt rõ ràng” [37, tr. Nghiên cứu về tư duy của người chỉ huy quân sự, tác giả A.
Sramtrenco với công trình “Những vấn đề tâm lý học trong chỉ huy bộ đội” [81], cho rằng: “Tư duy là quá trình nhận thức cao nhất, thực chất của nó là phản ánh vào ý thức con người hiện thực khách quan trong mối liên hệ và quan hệ bản chất nhất, có tính quy luật… Tư duy là đòn bẩy mạnh mẽ trong việc nhận thức hiện thực” [81, tr. Theo tác giả, tư duy của người chỉ huy quân sự có các phẩm chất: độ sâu, rộng, tầm nhìn xa, độ nhanh, tính mềm dẻo, óc phê phán, tính độc lập, lòng dũng cảm, sự thận trọng, sự khôn ngoan, tính rõ ràng và giản dị. Tư duy của người chỉ huy phải có tính sáng tạo, bởi vì chẳng những lối tư duy giáo điều mà cả lối tư duy logic hình thức vốn thiếu tính chất mềm nhuyễn khi phán đoán và thiếu đi nắm bản chất tình huống, cũng đều luan an 12 không đem lại một hoạt động có kết quả cho người chỉ huy khi chỉ huy bộ đội trong tình huống phức tạp và biến đổi nhanh chóng. Các công trình: “Tự học cách tư duy - Tư duy hoàn hảo” [5] của tác giả Edward De Bono; “Phương pháp tư duy siêu tốc” [11] của hai tác giả Bobbi Deporter và Mike Hernacki đều cho rằng tư duy sáng tạo là một thuộc tính bản chất, là kỹ năng cơ bản nhất, phổ biến, vốn có của con người, do đó, có thể được phát triển thông qua học và luyện tập.
Tư duy sáng tạo nếu không được rèn luyện, củng cố thì sẽ mai một. Theo Edward De Bono, “…thực thi nhiệm vụ, đàm phán và cả giải quyết vấn đề đều đòi hỏi tư duy sáng tạo. Sáng tạo là một trong những thành phần then chốt trong tư duy. Mục đích của nó là đưa ra những ý tưởng mới và những sự lựa chọn sáng suốt” [5, tr.
Hai tác giả Bobbi Deporter & Mike Hernacki cho rằng: “Tất cả chúng ta cũng có thể trở thành nhà tư tưởng sáng tạo, có khả năng giải quyết mọi vấn đề. Điều cần thiết là phải có trí tò mò, sẵn sàng mạo hiểm, và ham muốn làm mọi việc một cách hiệu quả” [11, tr. Các tác giả cũng đã chỉ ra vai trò của môi trường sáng tạo và những quy tắc nhất định khi các chủ thể tiến hành hoạt động sáng tạo phải tuân thủ theo chúng. Dù bất luận thế nào thì khởi nguồn, tiền đề của tư duy sáng tạo đều xuất phát từ tri thức, kiến thức, “hãy tự trang bị cho mình càng nhiều tri thức càng tốt.
Và hãy để cho những tri thức đó tỏa sáng” [11, tr. Tác giả Ađam Khoo với công trình “Làm chủ tư duy, thay đổi vận mệnh” [45] đã có những nghiên cứu về phương pháp giúp con người làm chủ cảm xúc và giải phóng tư duy để đạt được những kết quả tối ưu trong công việc. Tác giả cho rằng, trong mỗi người đã có tất cả những điều kiện cần thiết để thành công nếu như họ chủ động tìm kiếm và chuẩn bị cho nó. Theo tác giả, “một khi bạn đã học được cách lập trình bộ não của mình và biết cách cài đặt các chương trình mới ưu việt hơn, bạn sẽ thay đổi được cách tư duy và hành động của bản thân.
Từ đó, bằng cách luôn suy nghĩ và hành động tích cực, bạn có thể đạt được bất cứ thành công nào mà bạn mong muốn” [45, tr. Niềm tin chính là công tắc đóng mở những tiềm năng phi thường trong mỗi con người. luan an 13 Tác giả David Schwartz với công trình “Dám nghĩ lớn” [79] cho rằng, “người thành công và kẻ thất bại chỉ khác nhau ở cách nghĩ”. Theo đó, vấn đề suy nghĩ sáng tạo được tác giả đặc biệt quan tâm đề cập trong công trình này.
“Suy nghĩ sáng tạo - hiểu một cách đơn giản - nằm ở chỗ bạn tìm ra những cách thức mới mẻ, hợp lý và tiến bộ hơn để giải quyết một công việc nào đó” [79, tr. Tác giả cũng chỉ ra những công cụ giúp mỗi người có suy nghĩ sáng tạo. Những công trình ở trong nước: Tác giả Hồ Bá Thâm với công trình “Phát triển năng lực tư duy của người cán bộ lãnh đạo hiện nay” [86] cho rằng: năng lực tư duy, đặc biệt ở người lãnh đạo, quản lý có tác dụng lớn đến hoạt động thực tiễn của họ và thông qua đó ảnh hưởng đến sự phát triển xã hội. Tác giả chỉ ra bốn yếu tố mang tính đặc trưng cơ bản cấu thành năng lực tư duy: một là, yếu tố thấp của năng lực tư duy là năng lực ghi nhớ, tái hiện, vận dụng những khái niệm, hình tượng khái quát do cảm tính mang lại hoặc tiếp thu qua sách vở; hai là, năng lực cơ bản của tư duy là trừu tượng hóa, khái quát quát hóa trong phân tích và tổng hợp; ba là, liên tưởng, suy luận sáng tạo là một loại năng lực cơ bản bậc cao của tư duy, nhờ đó mà tư duy tìm được mối liên hệ bản chất, có khả năng vạch ra cái mới, dẫn đến phát hiện và khám phá; bốn là, trực giác với linh cảm, lóe sáng, tức thời… từ chiều sâu trí tuệ, là sản phẩm của quá trình tích lũy, chiêm nghiệm trong quan sát, nghiên cứu chứ không phải thần bí.
Với công trình “Mấy vấn đề triết học về xã hội và phát triển con người” [41], tác giả Nguyễn Văn Huyên khẳng định: “trong hàng chục thế kỷ đấu tranh dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam vốn thông minh và có trí tuệ sáng tạo tuyệt vời đã từng chiến thắng hết đế quốc này đến đế quốc khác với những phương tiện kỹ thuật hiện đại nhất của chúng. Để trả lời cho vấn đề được nêu ra là làm thế nào để bản chất sáng tạo của con người được phát huy mạnh mẽ hơn nữa trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, tác giả đã chỉ ra những điều kiện, tiền đề tâm lý - xã hội, chủ quan và khách quan nhằm tạo nên bầu không khí tâm lý sáng tạo, như: vốn tri thức, năng lực trí tuệ của con người; luan an 14 trạng thái tinh thần sẵn sàng công phá cái định hình tù túng, vượt thoát cái cũ lỗi thời để nắm bắt cái mới; sự công bằng xã hội… Trong công trình “Giáo dục đại học, phương pháp dạy và học” [66], tác giả Lê Đức Ngọc cho rằng: “Tư duy, nghĩa là suy nghĩ, lập luận hệ thống, lôgic và có chứng cứ; là một đặc tính quan trọng của trí tuệ con người. Người ta có thể học được các kỹ năng tư duy và nó giúp cho con người trở nên độc đáo, sáng tạo và cách tân trong giải quyết vấn đề” [66, tr.