Chương 1: Tổng quan của vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp Chương 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng thép sang thị trường Hàn Quốc của Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại Thái Hòa giai đoạn 2020 - 2022 Chương 4: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng mặt hàng thép sang thị trường Hàn Quốc của Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại Thái Hòa. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP 2. Một số khái niệm cơ bản 2. Khái niệm về cạnh tranh Thuật ngữ cạnh tranh thường được sử dụng để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, ngành sản phẩm hay quốc gia.
Tùy vào mục tiêu nghiên cứu khác nhau người ta có thể đưa ra các khái niệm khác nhau về cạnh tranh. Để nhận dạng cho đúng và đầy đủ về nội hàm khái niệm năng lực cạnh tranh, chúng ta phải bắt đầu từ việc phân định khái niệm cạnh tranh. Có nhiều cách tiếp cận để đưa ra khái niệm cạnh tranh, điển hình là một số quan niệm như sau: Cạnh tranh, theo định nghĩa của Đại Từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên (NXB Văn Hóa - Thông tin, trang 248) là "sự tranh đua giữa những cá nhân, tập thể có chức năng như nhau, nhằm giành phần hơn, phần thắng về mình". Theo Từ điển Thuật ngữ Kinh tế học (NXB Từ điển Bách khoa, HN 2001.42): "cạnh tranh - sự đấu tranh đối lập giữa các cá nhân, tập đoàn hay quốc gia.
Cạnh tranh nảy sinh khi hai bên hay nhiều bên cố gắng giành lấy thứ mà không phải ai cũng có thể giành được". Theo Giáo sư Chu Văn Cấp (trong cuốn sách Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế - Nhà xuất bản Chính trị quốc gia 2003) thì "cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật và thủ đoạn để đạt được mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích. Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi".
Từ những định nghĩa như trên, có thể rút ra rằng: Cạnh tranh là quá trình đấu tranh giữa các chủ thể kinh tế nhằm hướng đến đạt được những mục tiêu mà mình mong muốn như chiếm lĩnh thị phần, giành khách hàng sao cho đạt được mức lợi nhuận cao nhất với mức chi phí thấp nhất tiến đến nâng cao vị thế của mình trên thị trường. Tuy nhiên, không phải tất cả các hành vi cạnh tranh đều lành mạnh, hoàn hảo và giúp cho các chủ thể tham gia đạt được tất cả những gì mình muốn. Trong thực tế, để có lợi thế trong kinh doanh, các chủ thể đã sử dụng mọi cách, kể cả những hành vi tiêu 15 cực/không lành mạnh để làm tổn hại đến các đối thủ tham gia khác. Tóm lại, cạnh tranh phát sinh từ nhu cầu tối đa hoá lợi nhuận và thỏa mãn lợi ích kinh tế của con người.
Tuy nhiên cạnh tranh chỉ tồn tại khi có môi trường cạnh tranh và chỉ diễn ra trong điều kiện của cơ chế thị trường. Khái niệm về năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi, tuy nhiên lại chưa có một khái niệm thống nhất nào có thể định nghĩa hoàn chỉnh cụm từ này. Song, ta có thể tiếp cận nó theo những quan điểm sau: Theo Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) năm 2006 định nghĩa: “Năng lực cạnh tranh liên quan đến các yếu tố năng suất, hiệu suất và khả năng sinh lợi. Năng lực cạnh tranh là một phương diện nhằm tăng các tiêu chuẩn cuộc sống và phúc lợi xã hội.
Xét trên bình diện toàn cầu, nhờ tăng năng suất, hiệu suất trong bối cảnh phân công lao động quốc tế, năng lực cạnh tranh tạo nền tảng cho việc tăng thu nhập của người dân” Năng lực cạnh tranh chính là khả năng đạt được thành công trên các thị trường dẫn đến mức sống tốt hơn cho tất cả mọi người. Nó bắt nguồn từ một số yếu tố, đặc biệt là năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp và môi trường kinh doanh hỗ trợ khuyến khích đổi mới và đầu tư, kết hợp dẫn đến tăng trưởng năng suất mạnh mẽ, tăng thu nhập thực tế và phát triển bền vững (Annual Competitiveness Report, 2004). Theo Chiến lược cạnh tranh của Michael E.Porter (1980), năng lực cạnh tranh là khả năng sáng tạo ra những sản phẩm có quy trình công nghệ độc đáo để tạo ra giá trị gia tăng cao phù hợp với nhu cầu khách hàng, với chi phí thấp, năng suất cao nhằm tăng lợi nhuận. Theo Từ điển thuật ngữ kinh tế học (NXB Từ điển Bách Khoa Hà Nội, 2001 - trang 349) định nghĩa: "Năng lực cạnh tranh (còn gọi là sức cạnh tranh); Tiếng Anh - Competitive Power; Tiếng Pháp - Capacité de Concurrence) là khả năng giành được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kị cả khả năng giành lại một phần hay toàn bộ thị trường".
Theo Từ điển thuật ngữ chính sách thương mại (1997): “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là không bị doanh nghiệp khác đánh bại về kinh tế, lại có khái niệm cho rằng năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với nâng cao lợi thế cạnh tranh, hay năng suất lao động”. Theo Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp (HLFIC) của OECD, 2009 lại 16 cho rằng: “Năng lực cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, các ngành, các vùng, các quốc gia hoặc khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế trên cơ sở bền vững”. Từ những phân tích trên, ta có thể định nghĩa một cách tương đối tổng quát về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là: "Khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững’’. Qua khái niệm trên ta cũng có thể thấy “năng lực cạnh tranh” không phải là một chỉ tiêu đơn thuần, mà nó được tổng hợp từ rất nhiều tiêu chí cấu thành.
Vì vậy, để đánh giá được “năng lực cạnh tranh” của một doanh nghiệp phải xem xét các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Các cấp độ năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh quốc gia Theo Lợi thế cạnh tranh quốc gia của M. Porter (1990) đưa ra khái niệm về năng lực cạnh tranh của một quốc gia dựa trên năng suất lao động. Ông cho rằng năng lực cạnh tranh ở cấp quốc gia được phản ánh qua năng suất lao động.
Tiếp đến năng suất sản xuất lại phụ thuộc vào môi trường cạnh tranh của mỗi nước. Bởi trong xu thế hội nhập toàn cầu, giá trị bản thân các yếu tố thiên phú của các yếu tố sản xuất ngày càng giảm và muốn đạt được năng suất cao thì phải tạo ra môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp và các thể chế đồng bộ để có thể sử dụng hiệu quả các yếu tố sản xuất. Theo nhận định của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) năm 1997: “Năng lực cạnh tranh quốc gia là một hệ thống các thể chế, chính sách, quy định tạo nên mức sản lượng của một quốc gia. Nói cách khác, một nền kinh tế cạnh tranh thì có xu hướng có thể đem tới mức thu nhập cao hơn cho các công dân của mình, tỷ lệ tái đầu tư lớn hơn và do đó có thể phát triển nhanh hơn trong tương lai trung và dài hạn”.
Như vậy, năng lực cạnh tranh quốc gia có thể hiểu là việc xây dựng một môi trường cạnh tranh kinh tế chung, đảm bảo có hiệu quả phân bố nguồn lực, để đạt và duy trì mức tăng trưởng cao, bền vững. Năng lực cạnh tranh quốc gia cũng tác động đến năng lực cạnh tranh ngành thông qua tác động đến các doanh nghiệp trong nước của ngành; thêm vào đó tác động đến thu hút đầu tư nước ngoài – thứ mà sau cùng cũng tác động đến năng lực cạnh tranh của những ngành thu hút được đầu tư nước ngoài. Năng lực cạnh tranh ngành 17 Cạnh tranh giữa các ngành là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất khác nhau nhằm mục đích đầu tư có lợi hơn và kết quả là tạo nên tỷ suất lợi nhuận bình quân và giá trị sản xuất. Năng lực cạnh tranh cấp ngành thường được dùng cho ngành sản xuất trong phạm vi một quốc gia, thể hiện khả năng của một ngành trong việc đương đầu với các thách thức phát sinh từ các đối thủ cạnh tranh nước ngoài (IMD, 2004).
Điều này có nghĩa là nếu các yếu tố tạo nên sức cạnh tranh của một một ngành cao, thì quốc gia đó sẽ có năng lực cạnh tranh về ngành liên quan cao. Sức cạnh tranh không chỉ thể hiện sức cạnh tranh của các doanh nghiệp, của ngành mà còn tạo nên sức mạnh cạnh tranh của một quốc gia. Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp thể hiện qua khả năng sinh lời của đồng vốn mà doanh nghiệp đã đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Ở cấp độ này, chỉ số cạnh tranh thể hiện ở các yếu tố như khả năng sinh lợi nhuận, chi phí, năng suất sản xuất và thị phần.
Bên cạnh đó, các yếu tố như các kỹ năng quản trị, tài chính, những kiến thức về mặt công nghệ, bản chất của thị trường cũng ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp (Theo Công nghiệp Canada 1995, OECD 1992 và Grossi 1990). Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp. Đây là yếu tố nội hàm của doanh nghiệp và chúng được so sánh với các đối thủ khác trên cùng một sản phẩm, lĩnh vực và thị trường. việc phân tích nội lực của công ty để nhận ra được những điểm mạnh và yếu của doanh nghiệp từ đó nó sẽ được đánh giá thông qua việc so sánh với các đối thủ cạnh tranh.