Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp Chương 3: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng may mặc sang thị trường Mỹ của Tổng công ty CP Dệt May Hà Nội Chương 4: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng may mặc sang thị trường Mỹ của Tổng công ty CP Dệt May Hà Nội 15 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP 2.1 Một số khái niệm cơ bản 2.1 Khái niệm xuất khẩu Theo Luật thương mại Việt Nam năm 2019 quy định: “Xuất khẩu là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”. Nhìn chung, xuất khẩu là việc bán hàng hóa (hàng hóa có thể là hữu hình hoặc vô hình) cho một nước khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm đồng tiền thanh toán. Tiền tệ có thể là tiền của một trong hai nước hoặc là tiền của một nước thứ ba (đồng tiền dùng thanh toán quốc tế).2 Khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 2.1 Khái niệm cạnh tranh Hiện nay, ta có thể thấy "Cạnh tranh" được sử dụng rất phổ biến trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, thương mại, luật, chính trị,…Do vậy, đã không ít quan điểm về thuật ngữ này được đưa ra. Theo nhà kinh tế học người Mỹ Michael Porter: “Cạnh tranh (kinh tế) là giành lấy thị phần.
Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có”. Từ điển kinh doanh của Anh (xuất bản năm 1992) cho rằng: “Cạnh tranh được xem là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”. Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: “Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung - cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất”. 16 Như vậy qua các khái niệm đã nêu ở trên, ta có thể hiểu một cách đầy đủ: “Cạnh tranh là quá trình kinh tế mà trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau để chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng và các điều kiện thuận lợi trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Thực chất của cạnh tranh là sự tranh giành về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể khi tham gia thị trường”.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), năng lực cạnh tranh là khả năng của doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện kinh tế quốc tế. Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: “Năng lực cạnh tranh là khả năng của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh, hoặc một nước giành thắng lợi (kể cả giành lại một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ”. Theo Michael Poter, năng lực cạnh tranh của công ty có thể hiểu là khả năng chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ các sản phẩm cùng loại (hay sản phẩm thay thế) của công ty đó. Năng lực giành giật và chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ cao thì doanh nghiệp đó có năng lực cạnh tranh cao.
Michael Porter không bó hẹp ở các đối thủ cạnh tranh trực tiếp mà ông mở rộng ra cả các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn và các sản phẩm thay thế. Như vậy, những định nghĩa trên cho thấy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dựa trên nhiều yếu tố như: giá trị sử dụng, chất lượng sản phẩm, điều kiện sản xuất ổn định do sản xuất chủ yếu trên cơ sở kĩ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến, quy mô sản xuất lớn và nhờ đó giá thành và giá cả sản phẩm hạ xuống. Các yếu tố xã hội như giữ được chữ tín trên thị trường, việc tuyên truyền, hướng dân tiêu dùng, quảng cáo cũng có ảnh hưởng quan trọng. Bên cạnh đó, có thể thấy năng lực cạnh tranh là một thuật ngữ có tính đa chiều, nếu nghiên cứu theo những góc độ tiếp cận khác nhau sẽ dẫn đến những quan niệm khác nhau.
Tuy nhiên, chúng ta có thể xem xét năng lực cạnh tranh ở 3 cấp độ khác nhau như: quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm. 17 * Năng lực cạnh tranh quốc gia Theo nhận định của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) năm 1997: “Năng lực cạnh tranh quốc gia là năng lực của nền kinh tế quốc gia nhằm đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối và đặc trưng kinh tế khác”. Năng lực cạnh tranh quốc gia phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng nguồn lực con người, tài nguyên về vốn của một quốc gia, bởi vì chính năng suất xác định mức sống bền vững thể hiện qua mức lương, tỷ suất lợi nhuận từ vốn bỏ ra, tỷ suất lợi nhuận thu được từ tài nguyên thiên nhiên. Theo Asia Development Outlook 2003, năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng cạnh tranh của một nước để sản xuất các hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được thử thách của thị trường quốc tế.
Đồng thời, duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của công dân nước đó. Mặt khác, năng lực cạnh tranh quốc gia phản ánh khả năng của một nước để tạo ra việc sản xuất sản phẩm, phân phối sản phẩm và dịch vụ trong thương mại quốc tế, trong khi kiếm được thu nhập tăng lên từ nguồn lực của nó. Nhìn chung, ta có thể hiểu năng lực cạnh tranh quốc gia là tổng hợp các thể chế, chính sách và nhân tố quyết định mức độ hiệu quả và tính năng suất của một quốc gia. Một nền kinh tế có năng suất, hiệu quả là nền kinh tế có năng lực sử dụng, khai thác tốt các nguồn lực có hạn.
* Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp Theo quan điểm của Michael Porter (1990), năng lực cạnh tranh đề cập đến khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp để tạo ra sản phẩm chất lượng và năng suất vượt trội hơn so với đối thủ cạnh tranh. Đồng thời, doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh sẽ chiếm lĩnh được thị phần lớn hơn cũng như khả năng phát triển bền vững cho tổ chức và tạo ra thu nhập cao cho người lao động. Michael Porter cũng nhận định, năng suất lao động là thước đo duy nhất để đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Theo Aldington Report (1985): “Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp 18 hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế.
Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp”. Theo Bộ thương mại và Công nghiệp Anh (1998): “Đối với doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả và vào đúng thời điểm. Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất và hiệu quả hơn các doanh nghiệp khác”. Từ những quan điểm trên, ta có thể kết luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng khai thác, quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực để tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đồng thời xác lập lợi thế cạnh tranh so với đối thủ cạnh tranh.
Từ đó chiếm lĩnh thị phần lớn trên thị trường, tạo ra thu nhập và lợi nhuận cao đảm bảo cho sự tồn tại, tăng trưởng và phát triển bền vững của doanh nghiệp kể cả trong điều kiện môi trường kinh doanh thay đổi.3 Khái niệm năng lực cạnh tranh của sản phẩm Cho đến nay, các nhà nghiên cứu kinh tế vẫn chưa đưa ra được một định nghĩa thống nhất. Các khái niệm đưa ra đều dựa trên khái niệm về năng lực cạnh tranh của quốc gia và của doanh nghiệp. Theo hai tác giả Keinosuke Ono và Tatsuyuki Negoro nhận định: “Sản phẩm cạnh tranh tốt là sản phẩm hội tụ đủ các yếu tố chất lượng, giá cả, thời gian giao hàng, dịch vụ trong đó yếu tố cơ bản nhất là chất lượng sản phẩm. Sản phẩm cạnh tranh là sản phẩm đem lại môt giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không phải lựa chọn sản phẩm của đối thủ cạnh tranh”.
Một số tác giả khác cho rằng năng lực cạnh tranh của sản phẩm là sự vượt trội về các tiêu chí so với sản phẩm cùng loại do đối thủ khác cung cấp trên cùng một thị trường. Khái niệm này cho thấy, việc xác định sản phẩm có năng lực cạnh tranh hay không trên thị trường là xác định mức độ tin cậy của người tiêu dùng đối với sản phẩm về số lượng, chất lượng, bao bì, mẫu mã, về giá cả, đổi mới công nghệ, dịch vụ sau bán hàng,.so với sản phẩm cùng loại mà các đối thủ khác cung cấp trên cùng một thị trường. 19 Như vậy, mặc dù chưa thống nhất về khái niệm nhưng có thể hiểu rằng năng lực cạnh tranh của sản phẩm được cấu thành bởi nhiều yếu tố có thể kể đến như chất lượng, thời gian sản xuất, thương hiệu, giá thành, tính năng, mẫu mã,…Sức cạnh tranh còn thể hiện ở mức độ thỏa mãn tối đa nhu cầu khách hàng, người tiêu dùng, qua đó nâng cao khả năng duy trì và phát triển sản phẩm các thị trường trong và ngoài nước.4 Khái niệm năng lực cạnh tranh xuất khẩu của sản phẩm Trong bối cảnh hội nhập và mở cửa nền kinh tế, hoạt động xuất nhập khẩu diễn ra mạnh mẽ, bên cạnh đó, xuất khẩu sản phẩm cũng phải chịu sự cạnh tranh gay gắt. Tuy nhiên từ trước đến nay chưa có nhiều khái niệm diễn tả NLCT XKSP.
Chúng ta có thể hiểu NLCT XKSP đó là sự vượt trội sản phẩm của một quốc gia so với các sản phẩm cùng loại của các quốc gia khác về chất lượng và giá cả, với cùng điều kiện đáp ứng được yêu cầu của thị trường nhập khẩu trong cùng một thời điểm.