lời mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu sơ đồ, danh mục từ viết tắt. 16 CHƢƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU GIÀY DA SANG THỊ TRƢỜNG EU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VASA GROUP 2. Một số lý thuyết cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 2. Khái niệm cạnh tranh Cạnh tranh xuất hiện trong hầu hết các lĩnh vực như kinh tế, chính trị, xã hội,.Vì vậy có nhiều định nghĩa khác nhau về cạnh tranh xuất phát từ các góc độ nhìn nhận khác nhau.
Theo nhà kinh tế học Michael Porter: Cạnh tranh trong kinh doanh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi”. Theo quan điểm của K.Mac: “Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, đấu tranh khốc liệt giữa các nhà tư bản để chiếm lĩnh những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thị hàng hóa, thu lợi nhuận siêu ngạch.
Quan điểm này coi cạnh tranh là sự quyết định, thực hiện và phân phối giá trị thặng dư giữa những người sản xuất với nhau và giữa họ với người tiêu dùng. Cạnh tranh được diễn ra trên ba góc độ: cạnh tranh giá cả thông qua tăng năng suất lao động ; cạnh tranh chất lượng sản phẩm thông qua giá trị sử dụng của hàng hóa; cạnh tranh giữa các ngành thông qua lợi nhuận”. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 1) định nghĩa, cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung - cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thu và thị trường có lợi nhất. Theo tác giả Đoàn Hùng Nam (tác phẩm Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thời kì hội nhập ) cho rằng: “Cạnh tranh là một quan hệ kinh tế, tất yếu phát sinh trong cơ chế thị trường với việc các chủ thể kinh tế ganh đua gay gắt để giành giật những điều kiện có lợi về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng để thu được lợi nhuận cao nhất.
Mục đích cuối 17 cùng trong cuộc tranh đua là tối đa hóa lợi ích đối với doanh nghiệp và đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi”. Trong khoa học kinh tế, cho đến nay các nhà kinh tế học dường như chưa thỏa mãn với bất kì khái niệm cụ thể nào về cạnh tranh. Tuy nhiên, trên góc độ chung nhất dựa vào các quan điểm trên, ta có thể hiểu cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể bao gồm nhà sản xuất, nhà phân phối, bán lẻ, người tiêu dùng, thương nhân… nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế, thương mại khác để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Cạnh tranh là động lực của phát triển kinh tế, thể hiện trên nhiều khía cạnh và phương diện khác nhau.
Xét trên bình diện toàn bộ nền kinh tế, cạnh tranh đóng vai trò là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, góp phần phân bổ các nguồn lực một cách có hiệu quả. Đối với doanh nghiệp, cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải không ngừng nỗ lực vươn lên, cải tiến, nâng cao trình độ công nghệ và phương pháp quản lý sản xuất, nâng cao năng suất lao động nhằm tăng khả năng cạnh tranh, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Với người lao động, cạnh tranh tạo ra áp lực buộc người lao động phải nâng cao tay nghề, kỹ năng chuyên môn vì mục đích đảm bảo lợi ích các nhân của mình. Còn dưới góc độ là người tiêu dùng, cạnh tranh tạo ra cơ hội lựa chọn rộng rãi cho người tiêu dùng về hàng hóa, thỏa mãn nhu cầu ngày một gia tăng.
Từ đó tạo ra áp lực điều tiết thị trường, hạn chế sự biến động thất thường về giá cả. Khái niệm về năng lực cạnh tranh Với cách tiếp cận về kinh tế vi mô, năng lực cạnh tranh là một khái niệm quan trọng đối với một doanh nghiệp và với các nhà quản trị hoạch định chính sách cho doanh nghiệp. Cho đến nay vẫn chưa thống nhất khái niệm chung về năng lực cạnh tranh. Theo Michael Porter, năng lực cạnh tranh là khả năng doanh nghiệp sản xuất, duy trì và phát triển những lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp để tạo ra năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, dịch vụ cao hơn đối thủ.
Qua lợi thế năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp sẽ chiếm lĩnh được thị trường lớn, tạo ra lợi nhuận cao và tăng 18 trưởng bền vững. Một số quan điểm cho rằng doanh nghiệp muốn phát triển bền vững thì doanh nghiệp chỉ cần đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ và tăng trưởng cao. Nguyễn Bách Khoa, năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp là sự đánh giá của doanh nghiệp về các mặt như khả năng của nguồn nội lực, mối quan hệ của doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh, xác định được lợi thế cạnh tranh nhằm duy trì và phát triển tăng trưởng thị phần và lợi nhuận. => Năng lực cạnh tranh là lợi thế của đơn vị kinh doanh so với đối thủ cạnh tranh về việc làm, tạo ra sản phẩm hàng hóa, tập trung lực lượng lao động dồi dào, thu nhập cao hơn so với các đơn vị kinh doanh khác trên cùng thị trường vào cùng thời điểm.
Năng lực cạnh tranh chính là kim chỉ nam để doanh nghiệp tạo ra động lực tốt nhất thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội và có thể hiểu là yếu tố quan trọng khẳng định hiệu quả công việc và năng suất lao động trong nền kinh tế. Năng lực cạnh tranh không chỉ quan trọng trong điều hành doanh nghiệp mà nó quyết định sự thành bại của một doanh nghiệp: Năng lực cạnh tranh tạo động lực để doanh nghiệp tồn tại: Cạnh tranh giúp nền kinh tế không ngừng phát triển và tạo ra nhiều giá trị hơn. Để tồn tại và không bị bỏ lại phía sau trong các thị trường đầy biến động và phát triển, các công ty cần phải cạnh tranh. Giúp doanh nghiệp phát triển và đổi mới: Nhờ quá trình không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh, các công ty có thể phát triển, mở rộng quy mô, nâng cao tính chuyên nghiệp và được thị trường thừa nhận.
Đạt mục tiêu kinh doanh: Tùy từng giai đoạn khác nhau mà các công ty sẽ xây dựng những dự án phù hợp giúp từng bước phát triển và lớn mạnh hơn. Khả năng cạnh tranh được cải thiện giúp các công ty đạt được mục tiêu nhanh hơn. Các cấp độ năng lực cạnh tranh Cạnh tranh xét về bản chất luôn được nhìn nhận trong trạng thái động và ràng buộc trong mối quan hệ so sánh tương đối. Cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế, bằng mọi biện pháp để đạt được mục tiêu kinh tế của 19 mình, mục tiêu thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất, mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá lợi ích (đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận).
Có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh trên các cấp độ khác nhau với hai phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh được các quốc gia và các thiết chế kinh tế quốc tế sử dụng nhiều nhất là: Phương pháp thứ nhất do Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) thiết lập trong Báo cáo cạnh tranh toàn cầu; phương pháp thứ hai do Viện Phát triển Quản lý Quốc tế (IMD) đề xuất trong cuốn Niên giám năng lực cạnh tranh thế giới (WCY). Cả hai phương pháp này đều xem xét theo 4 cấp độ: năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh ngành, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản phẩm/dịch vụ. Năng lực cạnh tranh quốc gia Năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng xây dựng một môi trường kinh tế chung phát triển vượt trội, bền vững, đảm bảo phân bố hiệu quả các nguồn lực nhằm đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao. Hay có thể hiểu đơn giản là thành quả mà một quốc gia đạt được trong việc tăng trưởng kinh tế, mức độ gia tăng tổng sản phẩm quốc nội trên đầu người theo thời gian.
Theo diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), khuôn khổ nội dung xác định năng lực cạnh tranh tổng thể cấp quốc gia bao gồm 8 nhóm chủ yếu: độ mở cửa kinh tế; Chính phủ - vai trò của nhà nước và tác động của chính sách tài khoá; tài chính tiền tệ; công nghệ; cơ sở hạ tầng, trình độ quản lý; lao động; thể chế (hiệu lực của pháp luật và thể chế của xã hội). Các yếu tố về năng lực cạnh tranh quốc gia có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, đến thu hút đầu tư nước ngoài dưới điều kiện cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt hơn. Năng lực cạnh tranh ngành Năng lực cạnh tranh ngành là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất khác nhau nhằm mục đích đầu tư có lợi hơn. Kết quả của cuộc cạnh tranh này là hình thành nên tỷ suất lợi nhuận bình quân và giá trị sản xuất hàng hóa.
Năng lực cạnh tranh của ngành phụ thuộc vào 4 nhóm yếu tố: ● Nhóm yếu tố do ngành tự quyết định bao gồm chiến lược phát triển ngành, sản phẩm chế tạo, lựa chọn công nghệ, đào tạo cán bộ, đầu tự nghiên cứu công nghệ 20 và phát triển sản phẩm, chi phí sản xuất và quan hệ với bạn hàng,. ● Nhóm các yếu tố do Chính phủ quyết định, tạo ra môi trường kinh doanh bao gồm: thuế, lãi suất ngân hàng, tỷ giá hối đoái, chi ngân sách cho hoạt động R&D, hệ thống luật pháp điều chỉnh quan hệ giữa các bên tham gia thị trường,. ● Nhóm các yếu tố mà Chính phủ và ngành chỉ quyết định được một phần như: nguyên liệu đầu vào, nhu cầu của người tiêu dùng, môi trường thương mại quốc tế,. ● Nhóm các yếu tố hoàn toàn không thể quyết định được như: môi trường tự nhiên, quy luật kinh tế,.