CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY 1. KHÁI NIỆM VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ NHỮNG LÝ THUYẾT LIÊN QUAN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về cạnh tranh Hiện nay có khá nhiều khái niệm về cạnh tranh Thuật ngữ “cạnh tranh” có nguồn gốc từ tiếng la tinh với nghĩa chủ yếu là sự đấu tranh, ganh đua, thi đua giữa các đối tượng cùng phẩm chất, cùng loại, đồng giá trị nhằm đạt được những ưu thế, lợi thế nục tiêu xác định.
Trong hình thái cạnh tranh thị trường, quan hệ ganh đua xảy ra giữa chủ thể cung ( nhóm người bán), cũng như chủ thể cầu (nhóm người mua), cả hai nhóm này tiến tới cạnh tranh với nhau và được liên kết với nhau bằng giá cả thị trường. Theo Samuelson: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng”. Theo Adam Smith: “Cạnh tranh có thể làm giảm chi phí và giá cả sản phẩm, từ đó khiến cho toàn bộ xã hội được lợi do năng suất của các doanh nghiệp tăng lên tạo ra”. Theo từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992 ở Anh) thì cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa là " Sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hoá về phía mình”.
Theo cuốn các vấn đề pháp lý và thể chế về chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh: “Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường, là năng lực phát triển của kinh tế thị trường. Cạnh tranh là sự sống còn của mỗi doanh nghiệp, đó là sự ganh đua giữa các nhà doanh nghiệp trong việc giành một nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao lợi thế của mình trên thị trường để đạt được một mục tiêu kinh doanh cụ thể như lợi nhuận, doanh số hoặc thị phần”. Như vậy cạnh tranh được hiểu là cuộc ganh đua gay gắt giữa các chủ thể đang hoạt động trên thị trường với nhau, kinh doanh cùng loại sản phẩm hoặc Luan van 6 những sản phẩm tương tự thay thế lẫn nhau nhằm chiếm lĩnh thị phần, tăng doanh thu và lợi nhuận. Khái niệm về năng lực cạnh tranh Theo quan điểm của diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) định nghĩa: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng cạnh tranh, năng lực mà doanh nghiệp có thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý trí trên thị trường cạnh tranh, đảm bảo thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời thực hiện những mục tiêu doanh nghiệp đề ra”.
Theo quan điểm tổng hợp của Wan Buren, Martin và Westqren năm 1991: Khả năng cạnh tranh của một ngành, một doanh nghiệp là khả năng tạo ra và duy trì lợi nhuận và thị phần trên các thị trường trong và ngoài nước. Như vậy, có thể hiểu khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp là năng lực mà doanh nghiệp có thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý trí trên thị trường cạnh tranh, đảm bảo việc thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời thực hiện những mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra.3 Phân loại năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện thực lực và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao hơn. Như vậy để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần phải đánh giá theo năng lực cạnh tranh marketing và năng lực cạnh tranh phi marketing (1). Theo Michael Porter thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gồm 4 yếu tố: + Các yếu tố bản thân doanh nghiệp: Bao gồm các yếu tố về con người (chất lượng, kỹ năng); các yếu tố về trình độ (khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm thị trường); các yếu tố về vốn; các yếu tố môi trường tự nhiên, địa lý … + Khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng + Sự phát triển các lĩnh vực có liên quan và phụ trợ cho doanh nghiệp như: thị trường tài chính, sự phát triển của công nghệ thông tin… Luan van 7 + Chiến lược của doanh nghiệp, vị thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh.
Theo giáo trình “Quản trị chiến lược” của trường Đại học Thương mại, năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp được phân chia thành năng lực cạnh tranh marketing và năng lực cạnh tranh phi marketing. Các yếu tố năng lực cạnh tranh marketing bao gồm: - Tổ chức marketing. - Hệ thống thông tin marketing. - Hoạch định chiến lược marketing.
- Các công trình marketing mix. - Kiểm tra marketing. - Hiệu suất hoạt động marketing. Các yếu tố năng lực cạnh tranh phi marketing bao gồm: - Vị thế tài chính.
- Năng lực quản trị và lãnh đạo. - Nguồn nhân lực. - Năng suất lao động - Chi phí nhân công 1. Một số lý thuyết liên quan 1.
Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh Khái niệm lợi thế cạnh tranh Không có lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp thường bị thua thiệt trên trường kinh doanh. Do vậy, xu thế phổ biến hiện nay là chiến lược được xây dựng trên cơ sở những lợi thế do doanh nghiệp tự xây dựng để giành ưu thế trong kinh doanh và để tạo ra sự khác biệt trong cạnh tranh. Lợi thế cạnh tranh là giá trị mà doanh nghiệp mang đến cho khách hàng, giá trị đó vượt quá chi phí dung để tại ra nó. Giá trị mà khách hàng sẵn sàng để trả, và ngăn trở việc đề nghị những mức giá thấp hơn của đối thủ cho những lợi ích tương đương hay cung cấp những lợi ích độc nhất hơn là phát sinh một giá cao.
(Micheal porter, 1985, trang 3”. Luan van 8 Khi một doanh nghiệp có được lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp đó sẽ có cái mà đối thủ khác không có, nghĩa là doanh nghiệp hoạt động tốt hơn đối thủ, hoặc làm được những việc mà các đối thủ khác không thể làm được. Lợi thế cạnh tranh là nhân tố cần thiết cho sự thành công và tồn tại lâu dài của doanh nghiệp. Do vậy mà các doanh nghiệp điều muốn cố gắng phát triển lợi thế cạnh tranh, tuy nhiên điều này thường rất dễ bị sói mòn bới những hành động bắt chước của đối thủ.
Các yếu tố quyết định đến việc xây dựng lợi thế cạnh tranh trong doanh nghiệp Các yếu tố tác động đến khả năng tạo lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp có phạm vi rất rộng. Các nhà khoa học đã đưa ra nhiều phương pháp xác định các yếu tố tác động, những quan điểm đó đều xoay quanh tám yếu tố cơ bản sau đây: - Văn hóa doanh nghiệp: Đây là tài sản vô hình quyết đinh tương lai của doanh nghiệp và cũng là yếu tố quyết định đến lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp - Sức sinh lời của vốn đầu tư: Yếu tố này thể hiện trình độ tổ chức sản xuất và quản lý doanh nghiệp nhằm phát huy tối đa hiệu quả sử dụng của các tương lai vật chất cũng như phi vật chất của doanh nghiệp - Năng suất lao động: Đây là yếu tố phản ánh trình độ trang thiết bị kỹ thuật công nghệ cho sản xuất, trình độ tổ chức sản xuất, trình độ quản lý. - Lợi thế về khẳ năng cạnh tranh hạ giá thành sản phẩm: Giá thành là yếu tố quan trọng quyết định đến lợi nhuận doanh nghiệp. - Chất lượng sản phẩm: Chất lượng sản phẩm ảnh hưởng đến khả năng tiêu thụ sản phẩm, khả năng thu hồi vốn và thị phần của doanh nghiệp.
- Kinh nghiệm trên thương trường: Có kinh nghiệm trên thương trường mới duy trì và phát huy khẳ năng hiệ n có của doanh nghiệp, nâng cao khả năng cạnh tranh. - Sự linh hoạt: Yếu tố này thể hiện sự nhạy bén của lãnh đạo của doanh nghiệp - Vị trí cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường: Biểu hiện cụ thể của yếu tố này là thị phần mà doanh nghiệp chiếm lĩnh, uy tín doanh nghiệp, bạn hang và đối thủ cạnh tranh. Lý thuyết về đánh giá năng lực cạnh tranh tổng thể Theo slide “quản trị chiến lược” trường Đại học Thương Mại năng lực cạnh tranh tổng thể gồm năng lực cạnh tranh tuyệt đối và năng lực cạnh tranh tương đối. Lý thuyết về năng lực cạnh tranh tuyệt đối và năng lực cạnh tranh tương đối - Năng lực cạnh tranh tuyệt đối của doanh nghiệp: 12 DSCTDN= ∑ Ki Pi i=1 DSCTDN: Điểm đánh giá năng lực cạnh tranh tổng thể của doanh nghiệp Ki: Hệ số k quan trọng của tham số i Pi: Điểm bình quan tham số i của tập mẫu đánh giá - Năng lực cạnh tranh tương đối của doanh nghiệp: D SCTDN DSCTSS = DSCTDS DSCTSS: Chỉ số sức cạnh tranh tương đối của doanh nghiệp DSC TDS : Sức cạnh tranh của doanh nghiệp chuẩn đối sánh (đối thủ cạnh tranh trực tiếp có vị thế dẫn đạo hoặc thách thức trên cùng thị trường mục tiêu của doanh nghiệp nghiên cứu; hoặc là đối thủ được đánh giá có năng lực cạnh tranh mạnh và hội nhập hữu hiệu trên thị trường tổng thể) Các bước xây dựng mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh tổng thể của doanh nghiệp + Bước 1: Xây dựn bộ tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh (năng lực cạnh tranh marketing và phi marketing) + Bước 2: Đánh giá tầm quan trọng (Ki) cho mỗi năng lực cạnh tranh này từ 1.0 (không quan trọng) dựa vào ảnh hưởng (mức độ, thời gian) của từng năng lực cạnh tranh đến vị thế chiến lược hiện tại của doanh nghiệp.
Mức phân loại thích hợp có thể được xác định bằng cách so sánh những đối thủ cạnh tranh thành công với những doanh nghiệp không thành công. Tổng độ quan trọng của tất cả năng lực cạnh tranh này bằng 1 + Bước3: Đánh giá xếp loại (Pi) cho năng lực cạnh tranh từ 4 đến 1 căn cứ cách thức mà định hướng chiến lược hiện tại của doanh nghiệp phản ứng với các Luan van 10 năng lực cạnh trang này. Việc xếp loại ở bước này căn cứ vào đặc thù của doanh trong khi tầm quan trọng của bước 2 căn cứ giá vào ngành hàng + Bước 4: Nhân Ki với Pi để đánh giá khẳ năng quan trọng của từng năng lực cạnh tranh + Bước 5: Cộng điểm quan trọng của từng năng lực cạnh tranh để các định tổng số điểm quan trọng của năng lực cạnh tranh tổng thể của doanh nghiệp. Tổng số điểm quan trọng nằm từ 4.