CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài. Cạnh tranh là một chủ đề nghiên cứu không còn mới. Đề tài đã được nhiều cá nhân và tổ chức nghiên cứu, ở cả phạm vi vi mô và vĩ mô.
Tuy nhiều, việc nghiên cứu này ở mỗi thời kỳ và ở mỗi lĩnh vực có những đóng góp và ý nghĩa thực tiễn khác nhau. Các luận án tiến sĩ: “Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho cà phê Việt Nam, TS. Trần Ngọc Hưng, 2003; “Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp điện tử Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, TS.Hoàng Thị Hoan, 2004; “Nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập của các ngân hàng thương mại đến năm 2010”, TS. Trịnh Quốc Trung, 2004; “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, TS.
Lê Đình Hạc, 2005.Kết quả nghiên cứu của các luận án nêu trên đă tập trung vào việc đánh giá thực trạng, đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của một ngành, một lĩnh vực hoặc một số dịch vụ cơ bản như công nghiệp điện tử, cà phê, ngân hàng thương mại… Giáo trình tham khảo: “Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp thương mại Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế”, TS. Nguyễn Vĩnh Thanh, NXB Lao động - xă hội, 2005; “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện toàn cầu hóa”, Trần Sửu, NXB Lao động ,2006. hay các bài viết “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam” đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đặng Hữu Mân, Đại học Đà Nẵng… là những công trình đề cập tới một số lý luận về sức cạnh tranh của doanh nghiệp, doanh nghiệp thương mại trong nền kinh tế thị trường, trình bày kinh nghiệm trong nước và quốc tế về nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, doanh nghiệp thương mại Việt Nam trong thời gian qua trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp Việt Nam. Với lĩnh vực vận chuyển hàng hóa hàng không quốc tế, có thể kể tới một số công trình được công bố như sau: Luận văn thạc sĩ, “Khả năng cạnh tranh của Hãng hàng không quốc gia Việt Nam trên thị trường vận tải hàng hóa trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”, Đồng Thị Ngọc Thanh, Trường Đại học Ngoại Thương, 2010.
5 Luận văn thạc sĩ, “Nâng cao khả năng cạnh tranh của Cụm cảng hàng không Miền Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế’’, Lê Trung Bình, Trường Đại học Kinh tế TP. Luận văn tốt nghiệp “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần xuất nhập khẩu Hàng không Airimex”, Mai Thị Thu Phương, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, 2008. Luận văn tốt nghiệp “Giải pháp tăng cường thu hút và sử dụng các nguồn vốn đầu tư cho phát triển ngành hàng không Việt Nam cho đến năm 2015”, Bạch Ly Na, Trường Đại học Ngoại Thương, 2009. Luận văn tốt nghiệp “Một số biện pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty cổ phần Logistics Tân Thế Giới Vinashin”, Bùi Thị Thanh Duyên, Trường Đại học Nha Trang, 2010.
Các Luận văn đã nghiên cứu về những vấn đề mang tính cấp thiết như cạnh tranh và đầu tư phát triển với đối tượng là các hãng hàng không (Carrier), Cảng hàng không, các công ty hoạt động liên quan trực tiếp đến các dịch vụ vận tải hàng không…là những chủ thể có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và giá cả dịch vụ cung cấp của các công ty giao nhận, từ đó tác động đến năng lực cạnh tranh của các công ty này. Các luận văn này cũng đề xuất được các giải pháp hợp lý cho các mục tiêu nghiên cứu cụ thể. Các kết quả đã đạt được Các công trình nghiên cứu đã đề cập tới những vấn đề lý luận cơ bản về cạnh tranh của doanh nghiệp, doanh nghiệp thương mại trong nền kinh tế thị trường, trình bày kinh nghiệm trong nước và quốc tế về nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, doanh nghiệp thương mại Việt Nam trong thời gian qua trên cơ sở đó đề xuất ra những giải pháp hiệu quả, có tính thực tiễn. Các công trình nghiên cứu về lĩnh vực vận tải và vận tải hàng không quốc tế cũng đã nêu bật lên được các đặc điểm, tính chất của dịch vụ vận chuyển hàng hóa hàng không quốc tế.
Các chủ thể , có thể là các hãng hàng không, các cơ quan khai thác xử lý hàng hóa, hay chính các công ty giao vận hàng hóa, với hoạt động của mình là những tác nhân có ảnh hưởng lớn tới hoạt động và năng lực cạnh tranh của các công ty. Các công trình này 6 cũng đã đánh giá khái quát về thị trường, tiềm năng phát triển và thách thức đối với các chủ thể, và đề xuất được những giải pháp hiệu quả cho từng thời kỳ và mục tiêu nghiên cứu. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu. Luận án “Nâng cao năng lực cạnh tranh về dịch vụ vận chuyển hàng không quốc tế của Công ty TNHH Agility Việt Nam” là một nghiên cứu mới không trùng lặp với các nghiên cứu trước đây, tập trung đề xuất cho một doanh nghiệp cụ thể hoạt động trong lĩnh vực vận tải và giao nhận, mà cụ thể hơn là về dịch vụ vận chuyển hàng không đối với hàng hóa.
Đây là một điểm mới mà chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập tới. Luận án đưa tới cho người đọc cái nhìn khái quát nhất về vận tải hàng không nói chung và dịch vụ vận chuyển hàng không quốc tế đối với hàng hóa nói riêng, đánh giá tình hình và tiềm năng phát triển của thị trường Việt Nam, chỉ ra được các xu hướng phát triển của nền kinh tế mà các chủ thể hoạt động trong lĩnh vực này cần nắm bắt… Dưới góc độ của người “trong cuộc”, từ việc đánh giá những thành công và hạn chế còn mắc phải trong hoạt động cạnh tranh, cùng với những nghiên cứu cụ thể, chi tiết về thị trường, tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh về dịch vụ vận chuyển hàng không của công ty TNHH Agility với mô hình tổ chức phù hợp với tình hình phát triển kinh tế trong ngoài nước và xu hướng phát triển của thị trường 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Cơ sở lý luận về cạnh tranh 1.
Khái niệm về cạnh tranh “Cạnh tranh” là một phạm trù kinh tế cơ bản, được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau và được định nghĩa theo nhiều góc độ khác nhau. Khi bàn về cạnh tranh, Adam Smith cho rằng nếu tự do cạnh tranh, các cá nhân chèn ép nhau thì cạnh tranh buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm công việc của mình một cách chính xác. Ngược lại, chỉ có mục đích lớn lao nhưng lại không có động cơ thúc đẩy thực hiện mục đích ấy thì rất ít có khả năng tạo ra được bất kỳ sự cố gắng lớn nào. Như vậy, có thể hiểu rằng cạnh tranh khơi dậy sự nỗ lực chủ quan của con người, góp phần làm tăng của cải của nền kinh tế.
Marx cho rằng “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu lợi nhận siêu ngạch” Kinh tế học của P. Samuelson định nghĩa: “Cạnh tranh là sự tranh giành thị trường để tiêu thụ sản phẩm giữa các nhà doanh nghiệp” Từ điển Kinh tế định nghĩa “Cạnh tranh được hiểu là quá trình ganh đua hoặc tranh giành giữa ít nhất hai đối thủ nhằm có được những nguồn lực hoặc ưu thế về sản phẩm hoặc khách hàng về phía mình, đạt được lợi ích tối đa”. (Nguồn: Các ngành dịch vụ Việt Nam – Năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế, NXB Thống kê, Hà Nội) Ở Việt Nam, khi đề cập đến “cạnh tranh” người ta thường hiểu là vấn đề giành lợi thế về giá cả hàng hóa, dịch vụ mua bán và đó là phương thức để giành lợi nhuận cao cho các chủ thể kinh tế. Trên quy mô toàn xă hội, cạnh tranh là phương thức phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu và do đó nó trở thành động lực bên trong thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Mặt khác, với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của các chủ thể kinh doanh, cạnh tranh cũng dẫn đến yếu tố thúc đẩy quá trình tích lũy và tập trung tư bản không đồng đều ở các doanh nghiệp. Mặc dù còn có thể dẫn ra nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm cạnh tranh, song qua các định nghĩa trên có thể rút ra những nét chung về cạnh tranh như sau: Thứ nhất, khi nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua giữa một (hoặc một nhóm) 8 người nhằm giành lấy phần thắng của nhiều chủ thể cùng tham dự. Cạnh tranh nâng cao vị thế của người này và làm giảm vị thế của những người còn lại. Thứ hai, mục đích trực tiếp của cạnh tranh là một đối tượng cụ thể nào đó mà các bên đều muốn giành giật (như một cơ hội, một sản phẩm dịch vụ, một dự án hay một thị trường, một khách hàng… ) với mục đích cuối cùng là kiếm được lợi nhuận cao.
Thứ ba, cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể, có các ràng buộc chung mà các bên tham gia phải tuân thủ như: đặc điểm sản phẩm, thị trường, các điều kiện pháp lý, các thông lệ kinh doanh… Thứ tư, trong quá tŕnh cạnh tranh, các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau: cạnh tranh bằng đặc tính và chất lượng sản phẩm dịch vụ, cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm dịch vụ; cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm (tổ chức các kênh tiêu thụ); cạnh tranh nhờ dịch vụ bán hàng tốt; cạnh tranh thông qua hình thức thanh toán… 1. Chức năng của cạnh tranh: Đối với nền kinh tế, cạnh tranh đảm nhận một số chức năng quan trọng. Tuy nhiên, tầm quan trọng của những chức năng có thể thay đổi theo từng thời kỳ. Đó là: - Chức năng điều chỉnh cung cầu hàng hoá trên thị trường.