MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Khi Việt Nam gia nhập WTO, có nhiều cơ hội và thách thức đặt ra cho các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực thí nghiệm. Với yêu cầu ngày càng nghiêm ngặt về chất lƣợng sản phẩm và nhận thức của ngƣời tiêu dùng ngày càng cao, những hàng hóa doanh nghiệp sản xuất ra phải đảm bảo yêu cầu, đƣợc chứng nhận phù hợp trƣớc khi đến với ngƣời tiêu dùng. Do đó, có nhiều khách hàng từ những doanh nghiệp sản xuất tìm đến các tổ chức thí nghiệm để kiểm tra sản phẩm nhằm đảm bảo chất lƣợng trƣớc khi tung ra thị trƣờng.
Số lƣợng tổ chức thí nghiệm hiện nay ở Việt Nam ngày càng tăng về số lƣợng và chất lƣợng. Các tổ chức thí nghiệm có sự cạnh tranh lẫn nhau, tổ chức nào thỏa mãn yêu cầu khách hàng tốt nhất sẽ đƣợc khách hàng tin tƣởng và tìm đến. Trung tâm Kỹ thuật 3 là tổ chức thuộc Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lƣờng Chất lƣợng đƣợc Nhà nƣớc chỉ định việc thí nghiệm kiểm tra chất lƣợng các sản phẩm hàng hóa. Qua hơn 35 năm hoạt động, Trung tâm Kỹ thuật 3 đƣợc biết đến nhƣ một đơn vị hàng đầu tại Việt Nam trong lĩnh vực thí nghiệm, có đội ngũ chuyên viên, kỹ thuật viên đƣợc đào tạo chuyên sâu, có nhiều kinh nghiệm, hệ thống phòng thí nghiệm với trang thiết bị hiện đại theo chuẩn mực quốc tế.
Bên cạnh những thuận lợi, Trung tâm Kỹ thuật 3 có những khó khăn nhất định nhƣ chƣa đáp ứng tốt các yêu cầu khách hàng (tỷ lệ trễ hẹn, tỷ lệ sai lỗi kết quả thí nghiệm còn cao), ngày càng có nhiều tổ chức thí nghiệm xuất hiện cạnh tranh với Trung tâm Kỹ thuật 3 về giá, chất lƣợng dịch vụ và tiến độ thí nghiệm… Để có thể tồn tại và phát triển, đòi hỏi Trung tâm Kỹ thuật 3 phải có những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trong lĩnh vực thí nghiệm. Nhận thấy cần có những đóng góp ý kiến để giúp Trung tâm Kỹ thuật 3 cạnh tranh với các đối thủ trong lĩnh vực thí nghiệm, tác giả chọn đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực thí nghiệm của Trung tâm Kỹ thuật 3”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mục tiêu đề tài - Phân tích năng lực cạnh tranh và xác định năng lực lõi trong lĩnh vực thí nghiệm của Trung tâm Kỹ thuật 3.
- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực thí nghiệm của Trung tâm Kỹ thuật 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tƣợng nghiên cứu: Hoạt động lĩnh vực thí nghiệm của Trung tâm Kỹ thuật 3. Các nguồn lực hiện có của Trung tâm Kỹ thuật 3 lĩnh vực thí nghiệm. Môi trƣờng kinh doanh lĩnh vực thí nghiệm ở Việt Nam.
Các đối thủ lớn cạnh tranh với Trung tâm Kỹ thuật 3 lĩnh vực thí nghiệm. - Phạm vi nghiên cứu: Không gian: Nghiên cứu các lĩnh vực thí nghiệm của Trung tâm Kỹ thuật 3 ở khu thí nghiệm Biên Hòa. Thời gian: Phân tích thực trạng hoạt động lĩnh vực thí nghiệm của Trung tâm Kỹ thuật 3 từ 2013 trở về trƣớc và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh từ 2014 – 2020. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phần cơ sở lý thuyết, tác giả tham khảo các tài liệu liên quan đến chiến lƣợc, lý thuyết cạnh tranh, qua đó chọn lọc và làm cơ sở lý luận cho đề tài của mình.
- Phần đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh, tác giả dựa vào các nguồn thông tin sơ cấp và thứ cấp: Số liệu thứ cấp thu thập từ các báo cáo công tác thí nghiệm của Trung tâm Kỹ thuật 3, báo cáo của Tổng cục thống kê… Số liệu sơ cấp thu thập thông qua việc tham khảo ý kiến chuyên gia là cấp quản lý các phòng thí nghiệm của Trung tâm Kỹ thuật 3 trong việc lập bảng câu hỏi. Sau đó tiến hành khảo sát, tổng hợp và phân tích số liệu. - Phần đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh, tác giả dựa trên kết quả phân tích thực trạng, các mục tiêu, chiến lƣợc của Trung tâm Kỹ thuật 3. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Kết cấu đề tài: gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. - Chƣơng 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực thí nghiệm của Trung tâm Kỹ thuật 3. - Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực thí nghiệm của Trung tâm Kỹ thuật 3. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1.1 Cạnh tranh và các vấn đề liên quan 1.1 Cạnh tranh Trên thế giới và ở Việt Nam có nhiều định nghĩa khác nhau về cạnh tranh, tác giả xin giới thiệu một vài định nghĩa điển hình sau đây: - Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OEDC) đƣa ra định nghĩa: “Cạnh tranh là khái niệm của doanh nghiệp, quốc gia và vùng trong việc tạo việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”.
- Theo Các Mác: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tƣ bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu đƣợc lợi nhuận siêu ngạch”. - Paul Samuelson cho rằng: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp với nhau để giành khách hàng hoặc thị trƣờng”. - Theo Đại Từ điển tiếng Việt: “Cạnh tranh là tranh đua giữa những cá nhân, tập thể có chức năng nhƣ nhau, nhằm giành phần hơn, phần thắng về mình”. - Theo Từ điển Bách Khoa của Việt Nam: “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động ganh đua giữa những ngƣời sản xuất hàng hóa, giữa các thƣơng nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trƣờng, chi phối bởi quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trƣờng có lợi nhất”.
- Theo Từ điển Thuật ngữ Kinh tế học: “Cạnh tranh – sự đấu tranh đối lập giữa các cá nhân, tập đoàn hay quốc gia. Cạnh tranh nảy sinh khi hai bên hay nhiều bên cố gắng giành lấy thứ mà không phải ai cũng có thể giành đƣợc”. - Theo từ điển rút gọn về kinh doanh: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trƣờng nhằm giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Tóm lại, cạnh tranh là khái niệm dùng để chỉ sự ganh đua giữa các cá nhân, tổ chức, cùng hoạt động trong một lĩnh vực, để giành phần hơn (về thị trƣờng, khách hàng, lợi nhuận…), phần thắng về mình (Đoàn Thị Hồng Vân, 2011).2 Lợi thế cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh là những lợi thế (khả năng vƣợt trội) của các chủ thể cạnh tranh (cá nhân, tổ chức) trong cuộc cạnh tranh (tranh đua) với các đối thủ của mình.
Nói cách khác, lợi thế cạnh tranh là những gì mà chủ thể cạnh tranh có đƣợc để giành phần hơn, phần thắng về mình. Một cách cụ thể hơn, lợi thế cạnh tranh của một công ty là khả năng công ty đó có thể cung cấp cho thị trƣờng một giá trị đặc biệt mà không có một đối thủ cạnh tranh nào có thể cung cấp đƣợc. Hay lợi thế cạnh tranh là những năng lực phân biệt của công ty, mà những năng lực phân biệt này đƣợc khách hàng xem trọng, đánh giá cao vì nó tạo ra giá trị cao cho khách hàng (Đoàn Thị Hồng Vân, 2011). Trên thế giới có một số quan điểm của các tác giả nổi tiếng về lợi thế cạnh tranh: - Theo quan điểm của các nhà kinh tế học cổ điển thì các yếu tố sản xuất nhƣ đất đai, vốn, lao động, những yếu tố tài sản hữu hình là nguồn lực quan trọng để tạo nên lợi thế cạnh tranh.
- Adam Smith cho rằng: “Lợi thế cạnh tranh dựa trên cơ sở lợi thế tuyệt đối về năng suất lao động, năng suất lao động cao có nghĩa là chi phí sản xuất giảm, muốn tăng năng suất lao động thì phải phân công lao động và chuyên môn hóa sản xuất”. - David Ricardo lại cho rằng: “Lợi thế cạnh tranh không chỉ phụ thuộc vào lợi thế tuyệt đối, mà còn phụ thuộc cả vào lợi thế tƣơng đối, tức lợi thế so sánh và nhân tố quyết định tạo nên lợi thế so sánh vẫn là chi phí sản xuất nhƣng mang tính tƣơng đối”. Porter: “Lợi thế cạnh tranh trƣớc hết dựa vào khả năng duy trì một chi phí sản xuất thấp và sau đó là dựa vào sự khác biệt hóa sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh nhƣ chất lƣợng sản phẩm, dịch vụ, mạng lƣới phân phối, cơ sở vật chất, trang bị kỹ thuật”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Năng lực cạnh tranh Có nhiều cách quan niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Dƣới đây là một số cách tiếp cận cụ thể về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp (Nguyễn Hữu Thắng, 2008): - Một là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây là cách quan niệm khá phổ biến hiện nay, theo đó: “Năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với đối thủ và khả năng “thu lợi” của các doanh nghiệp”. Các quan niệm này có thể gặp trong các công trình nghiên cứu của Mehra (1998), Ramasamy (1995), Buckley (1991), Schealbach (1989) hay ở trong nƣớc nhƣ của Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ƣơng (CIEM), Ủy ban Quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế. Hạn chế trong các quan niệm này là chƣa bao hàm các phƣơng thức, chƣa phản ánh một cách bao quát năng lực kinh doanh của doanh nghiệp.
- Hai là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chống chịu trƣớc sự tấn công của doanh nghiệp khác. Chẳng hạn, Hội đồng Chính sách năng lực của Mỹ đƣa ra định nghĩa: “Năng lực cạnh tranh là năng lực kinh tế về hàng hóa và dịch vụ trên thị trƣờng thế giới”. Ủy ban Quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế cho rằng: “Năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp không bị doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế”. Quan niệm về năng lực cạnh tranh nhƣ vậy mang tính chất định tính, khó có thể định lƣợng.
- Ba là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động.