phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo… luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp may mặc Chƣơng 2: Đánh giá năng lực cạnh tranh của Tổng công ty Đức Giang Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh trạnh của Tổng công ty Đức Giang 9 Luan van CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP MAY MẶC 1. KHÁI NIỆM NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1. Khái niệm về cạnh tranh Hình thành và phát triển cùng nền kinh tế thị trƣờng, cạnh tranh đƣợc xem là cơ sở và động lực cho sự phát triển.
Do đó, có rất nhiều học giả nghiên cứu cạnh tranh và đƣa ra những cách tiếp cận khác nhau đối với khái niệm này. Theo Các Mác: “ Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tƣ bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu đƣợc lợi nhuận siêu ngạch” (Các Mác, 1978, tr. Ở đây, Các Mác đã đề cập đến vấn đề cạnh tranh trong xã hội Tƣ bản chủ nghĩa, mà đặc trƣng của chế độ xã hội này là sự chiếm hữu tƣ nhân về tƣ liệu sản xuất. Do vậy, theo quan niệm này thì cạnh tranh có nguồn gốc từ chế độ tƣ hữu.
Cạnh tranh là sự lấn át, chèn ép lẫn nhau để tồn tại. Quan niệm đó về cạnh tranh đƣợc nhìn nhận từ góc độ tiêu cực. Ngày nay, hầu hết các nƣớc trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh và coi cạnh tranh vừa là môi trƣờng vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. “Cạnh tranh là sự ganh đua, là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa những chủ thể kinh doanh với nhau trên một thị trƣờng hàng hoá cụ thể nào đó nhằm giành giật khách hàng và thị trƣờng, thông qua đó mà tiêu thụ đƣợc nhiều hàng hóa và thu đƣợc lợi nhuận cao” (Nguyễn Vĩnh Thanh, 2005, tr.
Trên thực tế, còn rất nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh của doanh nghiệp, theo tác giả “Cạnh tranh là quá trình mà chủ thể tìm mọi biện pháp để vƣợt lên so với đối thủ về một lĩnh vực nhất định, quá trình tạo ra sự nổi trội của chủ thể so với đối thủ”. Đây là quá trình sáng tạo, đổi mới có tính chất toàn diện nhằm phục vụ khách hàng một cách tốt nhất và ứng phó với những thay đổi ngày càng đi lên của thị trƣờng nhiều biến động của nền kinh tế thế giới. Một số điều kiện cơ bản để xuất hiện cạnh tranh trong kinh tế là: 10 Luan van - Phải có nhiều chủ thể cùng nhau tham gia cạnh tranh. - Việc cạnh tranh phải diễn ra trong môi trƣờng cạnh tranh cụ thể, có các ràng buộc chung mà các chủ thể tham gia cạnh tranh phải tuân thủ nhƣ các ràng buộc của luật pháp, của thông lệ kinh doanh, của các thỏa thuận giữa ngƣời mua với ngƣời bán… - Cạnh tranh có thể diễn ra trong khoảng thời gian không cố định (ngắn hoặc dài) và nó cũng diễn ra trong một khoảng không gian cũng không nhất định (hẹp hoặc rộng).
Mục đích trực tiếp của hoạt động cạnh tranh trên thị trƣờng của các chủ thể kinh tế là: - Thứ nhất: giành những lợi thế để hạ thấp giá cả của các yếu tố "đầu vào" của các chu trình kinh doanh và nâng cao mức giá "đầu ra" sao cho với chi phí thấp nhất mà vẫn có thể đạt đƣợc mức lợi nhuận cao nhất. - Thứ hai: giành đƣợc thị phần cao nhất cho sản phẩm và dịch vụ mà mình cung cấp. - Thứ ba: giữ đƣợc thị phần, giữ đƣợc khách hàng hay nói một cách khác là giữ đƣợc “lòng trung thành” của khách hàng trên cơ sở sản phẩm và dịch vụ của mình. Phân loại cạnh tranh Cạnh tranh đƣợc phân loại theo một số tiêu thức sau: Căn cứ vào ngƣời tham gia trên thị trƣờng, cạnh tranh đƣợc chia làm ba loại: - Cạnh tranh giữa ngƣời bán với ngƣời mua: Là cạnh tranh theo "luật" mua rẻ bán đắt, chủ yếu theo quan hệ cung cầu trên thị trƣờng.
- Cạnh tranh giữa những ngƣời bán với nhau: Là cạnh tranh trên thị trƣờng nhằm giành lấy những điều kiện thuận lợi nhất trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ. 11 Luan van - Cạnh tranh giữa những ngƣời mua với nhau: Là cạnh tranh giữa những ngƣời mua để mua đƣợc thứ sản phẩm, dịch vụ mà họ cần. Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế cạnh tranh đƣợc chia thành 2 loại: - Cạnh tranh giữa các ngành: Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất khác nhau nhằm mục đích đầu tƣ có lợi hơn. Kết quả của hoạt động cạnh tranh này là sự hình thành nên tỷ suất lợi nhuận bình quân.
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất một loại sản phẩm, dịch vụ nhằm mục đích tiêu thụ những sản phẩm, dịch vụ đó có lợi hơn để thu đƣợc lợi nhuận cao hơn. Căn cứ vào cách thức sử dụng trong cạnh tranh, cạnh tranh đƣợc chia thành 2 loại: - Cạnh tranh lành mạnh là cạnh tranh đúng luật pháp, phù hợp với chuẩn mực xã hội và đƣợc xã hội thừa nhận, nó thƣờng diễn ra sòng phẳng, công bằng và công khai. - Cạnh tranh không lành mạnh là cạnh tranh dựa vào kẽ hở của luật pháp, trái với chuẩn mực, đạo đức xã hội (nhƣ trốn thuế, buôn lậu, móc ngoặc, khủng bố v. Năng lực cạnh tranh 1.
Khái niệm về năng lực cạnh tranh Theo quan điểm tổng hợp của Van Duren, Martin và Westgren thì năng lực cạnh tranh là khả năng tạo ra và duy trì lợi nhuận, thị phần trên các thị trƣờng trong và ngoài nƣớc. Các chỉ số đánh giá là năng suất lao động, công nghệ, tổng năng suất các yếu tố sản xuất, chi phí cho nghiên cứu và phát triển, chất lƣợng và tính khác biệt của sản phẩm, chi phí đầu vào. Ngoài ra, theo lý thuyết tổ chức công nghiệp xem xét năng lực cạnh tranh dựa trên khả năng sản xuất ra sản phẩm ở một mức giá ngang bằng hay thấp hơn mức giá phổ biến mà không có trợ cấp, đảm bảo đứng vững trƣớc các đối thủ khác hay sản phẩm thay thế (Fred R. 12 Luan van Theo Michael E.
Porter: “năng lực cạnh tranh là khả năng sáng tạo ra sản phẩm có quy trình công nghệ độc đáo để tạo ra giá trị gia tăng cao phù hợp với nhu cầu khách hàng, chi phí thấp, năng suất cao nhằm tăng nhanh lợi nhuận” (Michael E. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng vƣợt qua các đối thủ cạnh tranh để duy trì và phát triển chính bản thân doanh nghiệp. (Đặng Thị Hiếu Lá, 2006, tr. Nhƣ vậy, năng lực cạnh tranh có thể hiểu là khả năng khai thác, huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực và các điều kiện khách quan một cách có hiệu quả nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh trƣớc đối thủ, đảm bảo cho doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển trên thị trƣờng.
Thông thƣờng ngƣời ta đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua các yếu tố nội tại nhƣ quy mô, khả năng tham gia cạnh tranh và rút khỏi thị trƣờng, sản phẩm, năng lực quản lý, năng suất lao động, trình độ công nghệ. Tuy nhiên, khả năng này lại bị tác động bởi nhiều yếu tố bên ngoài (Nhà nƣớc và các thể chế trung gian). Doanh nghiệp nào có khả năng đổi mới và sáng tạo lớn thì doanh nghiệp đó có khả năng cạnh tranh cao (Đặng Thị Hiếu Lá 2006, tr. Ngoài ra, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp còn đƣợc thể hiện ở chiến lƣợc kinh doanh thích hợp và hiệu quả kinh doanh từ khâu nắm bắt thông tin đến khâu tổ chức sản xuất, từ đổi mới công nghệ đến phƣơng pháp quản lý phục vụ, từ đổi mới mặt hàng, các loại hình dịch vụ đến công việc tiếp thị, quảng cáo.
Nhƣ vậy, thuật ngữ “năng lực cạnh tranh” dù đã đƣợc sử dụng rộng rãi nhƣng vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về nó, dẫn đến cách thức đo lƣờng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vẫn chƣa đƣợc xác định một cách thống nhất và phổ biến. Từ các quan điểm trên, tác giả cho rằng: Năng lực cạnh tranh là khả năng khai thác, huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực giới hạn nhƣ nhân lực, vật lực, tài lực,…để tạo ra năng suất và chất lƣợng cao hơn so với đối thủ 13 Luan van cạnh tranh; đồng thời, biết lợi dụng các điều kiện khách quan một cách có hiệu quả để tạo ra lợi thế cạnh tranh trƣớc các đối thủ, xác lập vị thế cạnh tranh của mình trên thị trƣờng; từ đó, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập và lợi nhuận cao, đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại, tăng trƣởng và phát triển bền vững. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh Trong nền kinh tế thị trƣờng, để có thể tồn tại và phát triển, doanh nghiệp phải tạo cho mình khả năng chống chọi lại các thế lực cạnh tranh một cách có hiệu quả. Đặc biệt giai đoạn hiện nay, với tiến trình khu vực hóa, toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới và những tiến bộ vƣợt bậc của khoa học kỹ thuật, sự bùng nổ công nghệ thông tin, tính quyết định của năng lực cạnh tranh đối với sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp càng rõ nét.
Do vậy, doanh nghiệp phải không ngừng tìm tòi các biện pháp phù hợp và liên tục đổi mới để nâng cao năng lực cạnh tranh, vƣơn lên chiếm đƣợc lợi thế cạnh tranh so với đối thủ thì mới có thể phát triển bền vững. Việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp còn góp phần vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành. Từ đó, tạo ra những sản phẩm, dịch vụ ngày càng tốt hơn với giá rẻ hơn, làm cho nền kinh tế phát triển, khả năng cạnh tranh của quốc gia đƣợc nâng cao và đời sống của nhân dân đƣợc tốt đẹp hơn. Vì thế, bên cạnh nỗ lực nâng cao năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp, trên tầm vĩ mô, Nhà nƣớc cần phải nhanh chóng và đồng bộ hoàn thiện các cơ chế, chính sách, hệ thống pháp luật nhằm tạo môi trƣờng kinh doanh công bằng, lành mạnh cho các doanh nghiệp; thong qua đàm phán, ký kết các cam kết quốc tế về hội nhập, xúc tiến thƣơng mại, tạo sự thuận lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa.