Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về năng lực cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của ngành hàng không, của các cảng hàng không. Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của các cảng hàng không. Chương 3: Thực trạng phát triển và năng lực cạnh tranh của Tổng công ty cảng hàng không Việt Nam giai đoạn 2012-2017. Chương 4: Phương hướng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng công ty cảng hàng không Việt Nam đến năm 2030.
Khung nghiên cứu của luận án - Tổng quan tình hình nghiên cứu - Lý luận chung về năng lực cạnh tranh và năng lực cạnh tranh CHK - Thực trạng năng lực cạnh tranh của ACV Bài học kinh - Hội nhập, mở cửa bầu trời Phương hướng, nghiệm nâng cao - Doanh nghiệp Nhà nước giải pháp chủ năng lực cạnh - Các tiêu chí phản ánh năng yếu để nâng cao tranh của ACV lực cạnh tranh. năng lực cạnh Kết quả, hạn chế, -Các nhân tố ảnh hưởng năng tranh của ACV nguyên nhân lực cạnh tranh. Bối cảnh quốc tế, trong nước, điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức, các vấn đề đặt ra, để nâng cao năng lực cạnh tranh của ACV 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH HÀNG KHÔNG, CÁC CẢNG HÀNG KHÔNG 1. Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài Cạnh tranh trong nền kinh tế nói chung và cạnh tranh trong cung ứng sản phẩm dịch vụ nói riêng đ được nghiên cứu từ rất lâu.
Tuy nhiên nghiên cứu năng lực cạnh tranh một cách có hệ thống chỉ mới bắt đầu từ những năm 1980 đến nay. Trong tác phẩm “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” Michael E. Porter xuất bản 1990 [8], vận dụng những cơ sở lý luận cạnh tranh trong nước của mình vào lĩnh vực cạnh tranh quốc tế và đưa ra lý thuyết nổi tiếng là mô hình “Viên kim cương”. Các yếu tố quyết định của mô hình là các điều kiện về các yếu tố sản xuất, điều kiện về cầu, các ngành hỗ trợ và bối cảnh cạnh tranh, chiến lược và cơ cấu doanh nghiệp.
Ngoài ra, còn có 2 biến số bổ sung là vai trò của Nhà nước và yếu tố thời cơ. Theo Porter thì không một quốc gia nào có thể có khả năng cạnh tranh ở tất cả các ngành hoặc ở hầu hết các ngành, khả năng cạnh tranh của một quốc gia ngày nay lại phụ thuộc vào khả năng sáng tạo và sự năng động của ngành của quốc gia đó. Lý luận của Porter về lợi thế cạnh tranh quốc gia giải thích các hiện tượng thương mại trên góc độ các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế và vai trò của Nhà nước trong việc hỗ trợ cho các ngành có điều kiện thuận lợi để giành lợi thế cạnh tranh quốc gia chứ không phải cho một vài doanh nghiệp cụ thể. Sự thành công của các quốc gia ở ngành kinh doanh nào đó phụ thuộc vào 3 vấn đề cơ bản: lợi thế cạnh tranh quốc gia, năng suất lao động bền vững và sự liên kết hợp tác có hiệu quả trong cụm ngành.
Nghiên cứu Porter là nghiên cứu trên lĩnh vực quốc gia, chưa có nghiên cứu chuyên biệt độc lập nào về doanh nghiệp cung cấp dịch vụ và chưa đưa ra giải pháp tổng thể cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành và doanh nghiệp. Về lĩnh vực hàng không trên thế giới trong thời gian qua cũng có nhiều nghiên cứu về nâng cao năng lực cạnh tranh, có các công trình nghiên cứu tiêu biểu sau: Năm 2011, cuốn sách “Lợi ích kinh tế từ vận tải hàng không tại Singapore”, Nhà xuất bản Oxford Economics (Economic Benefits from Air Transport in 7 Singapore, Oxford Economics, 2011) đ nêu rõ Hàng không Singapore đóng góp đáng kể cho nền tài chính công. Theo Tổng công ty thuế Singapore, ngoài các hãng hàng không Singapore Airlines, Silk Air và Tiger Airways đóng thuế cho quốc gia, cảng hàng không quốc tế Changi đóng thuế một khoản lớn, còn có sự đóng góp của chuỗi cung ứng các dịch vụ cho ngành hàng không thông qua các kênh chi tiêu tạo nên, cụ thể đ đóng góp 1.5 tỷ USD thuế hàng năm cho chính phủ (nguồn IATA Oxford Economics). Chính phủ Singapore xác định ngành hàng không là ngành quan trọng của đất nước; với dân số 5.700 người nhưng sân bay đón 53.000 khách mỗi năm, 1.81 triệu tấn hàng hóa thông qua cảng năm 2011; ba năm liên tiếp 2009, 2010, 2011, sân bay Changi dành vương miện sân bay tốt nhất châu Á và thế giới và là sân bay bận rộn thứ 13 trên thế giới.
Để làm được điều này Singapore đ thực hiện nghiêm ngặt các tiêu chuẩn của Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế (ICAO), các chi phí về dịch vụ tại cảng hàng không Changi phải thấp hơn các nước trong khu vực. Ngoài ra để nâng cao năng lực cạnh tranh của cảng hàng không Changi với các nước trong khu vực và thế giới, cảng hàng không Changi rất chú trọng về hệ thống giao thông đường bộ kết nối với sân bay, về cảnh quan sân bay kiến trúc siêu ấn tượng, các quầy làm thủ tục khách đi và đến tiện nghi sang trọng, hoạt động hiệu quả, khu ăn uống, mua sắm phong phú, nơi đây còn có cả rạp chiếu phim, sàn giải trí đa phương tiện, spa và vườn thiên nhiên hoang dã. Cuốn sách trên ra đời nhằm giúp cho các nước đang phát triển có cái nhìn tổng quan về vai trò của cảng hàng không trong việc vận chuyển, đóng góp cho ngân sách, tuy nhiên cuốn sách không đưa ra được mô hình cụ thể cho các nước khác áp dụng. Năm 2012, Tác giả Yung Kil Lee và Ki Woong Kim, Đại học Hàng không vũ trụ Hàn Quốc cho ra đời “Một nghiên cứu về sự ảnh hưởng đến hiệu suất hoạt động của sân bay quốc tế Incheon bằng việc thực hiện một hệ thống quản lý chất lượng” (A study of the influence on the operational performance of Incheon Inernational Airport by the implementation of a qulity management system, Yung Kil Lee and Ki Woong Kim - Korea Aerospace University, 2012).
Nội dung của nghiên cứu này là áp dụng chứng chỉ ISO 9001 tại cảng hàng không quốc tế Incheon nhằm nâng cao 8 khả năng phục vụ hành khách và hàng hóa thông qua cảng, cụ thể là làm thế nào để giảm thiểu hành lý thất lạc và rút ngắn thời gian thủ tục cho hành khách đi và hành khách đến sân bay. Sân bay quốc tế Incheon (ICN) đón 41.000 hành khách mỗi năm, Incheon không chỉ là sân bay tốt thứ 2 của châu Á và trên thế giới nói chung. Incheon là căn nhà cho hãng bay Korean Air và là một trong 24 sân bay bận rộn nhất trên thế giới. Nó được mở cửa vào năm 2001.
Sân bay này được đánh giá cao bởi khu trung tâm mua sắm và ăn uống tùy chọn phong phú, thêm vào nữa là các buổi biểu diễn văn hóa và một bảo tàng ngay trong sân bay. Đối với Hàn Quốc, một nước phát triển, có tiềm lực về kinh tế, con người Hàn Quốc có tính kỷ luật cao, thời gian qua sân bay Incheon có những bước phát triển nhảy vọt. Tuy nhiên đây là nghiên cứu đơn lẻ, không áp dụng cho tất cả các sân bay tại Hàn Quốc. Nếu vận dụng mô hình này vào các cảng hàng không của Việt Nam, có thể thực hiện được một vài trường hợp đơn lẻ.
Năm 2015, trong chương trình giảng dạy của ICAO “Chương trình quản lý cơ sở hạ tầng phát triển kinh tế của vận tải hàng không” (Infasfuture management progamme economic development of air transport, 2015), nghiên cứu trường hợp sân bay quốc tế Amman Queen Alia (ICAO, OJAL, ATA: AMM) của Jordan, sân bay quốc tế Amman đ tiến hành hai mô hình đó là hợp tác công tư (PPP) và xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT). Sân bay Amman là sân bay chính của Jordan. Năm 2007, Chính phủ kết hợp với tư nhân xây dựng nhằm mở rộng sân bay và nhà ga hành khách nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của sân bay thúc đẩy kinh doanh và du lịch, nhờ đó năm 2013 đ đóng góp 20% GDP cho đất nước, tiếp theo đó để làm tăng không gian bán lẻ với 6000 mét vuông, số lượng từ 25 lên 39 cửa hàng với khoản đầu tư 100 triệu USD của tập đoàn AIG (Airport International Group) (Bao gồm công ty đầu tư Abu Dhabi, United Arab Emirates, công ty đầu tư tài chính Noor, Kuwait, EDGO Investment Holdings - Jordan, J&P – AVAX - Hy Lạp, Joannou & Paraskevaides Vương Quốc Anh và Aéroports de Paris Management Paris - Pháp) nhằm cải thiện cơ sở vật chất nhằm phục vụ hành khách ngày càng tốt lên, chính vì lẽ đó năm 2014 sân bay Amman giành được 02 giải 9 thưởng sân bay chất lượng dịch vụ ASQ (Airport Service Quality), chương trình hài lòng của hành khách của sân bay Hội đồng quốc tế ACI (Airports Council International) 2014, giải thưởng ASQ cho sân bay tốt nhất ở Trung Đông và sân bay cải tiến tốt nhất sự hài lòng hành khách năm 2013 và 2014. Cuốn sách đ giới thiệu sự thành công của sân bay quốc tế Amman Queen Alia của Jordan về xây dựng nhà ga và đường băng, trên cơ sở huy động vốn từ mô hình PPP và BOT, đ nghiên cứu mô hình cụ thể từ một sân bay quốc tế của Jordan có những thành công nhất định trong việc kinh doanh vận tải hàng không.
Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Tại Việt Nam cũng có những nghiên cứu về năng lực cạnh tranh: Năm 2003, UNDP và CIEM nghiên cứu “Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia”, cuốn sách này phân tích năng lực cạnh tranh của Việt Nam và đưa ra các giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Tuy nhiên không đề cập năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Cũng trong năm 2003, tác giả Lê Xuân Bá xuất bản cuốn sách “Hội nhập kinh tế - Áp lực cạnh tranh trên thị trường và đối sách của một số nước” [1]. Trong cuốn sách này tác giả phân tích môi trường đầu tư, lựa chọn dịch vụ và chính sách cho tương lai.
Tác giả cũng đưa ra những giải pháp cụ thể mà Việt Nam cần thực hiện để khai thác triệt để những lợi ích do hội nhập kinh tế khu vực mang lại, trình bày kinh nghiệm hội nhập kinh tế của nhiều nước châu Âu, châu Á. Năm 2004, tác giả Trần Văn Tùng trong cuốn “Cạnh tranh kinh tế, lợi thế cạnh tranh quốc gia và chiến lược cạnh tranh của công ty” [13] đ đề cập đến vấn đề cạnh tranh trong kinh tế, phân tích lợi thế cạnh tranh quốc gia và đề xuất chiến lược cạnh tranh cho các công ty trong giai đoạn Việt Nam đang dần dần hội nhập kinh tế thế giới.