Tổng quan nghiên cứu

Tỉnh Khánh Hòa giữ vị thế cửa ngõ kinh tế biển chiến lược của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ với định hướng của Bộ Chính trị phấn đấu trở thành đô thị trực thuộc Trung ương vào năm 2025. Trong giai đoạn 2001-2010, tỉnh đã ghi nhận tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội bình quân đạt 10,7%/năm, cao gấp 1,5 lần mức bình quân chung của cả nước là 7,3%/năm. Mặc dù tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người năm 2012 đạt 39,3 triệu đồng, cao hơn mức 36,6 triệu đồng của cả nước, nền kinh tế địa phương đã bộc lộ dấu hiệu suy giảm động lực rõ rệt trong giai đoạn 2011-2013 khi tốc độ tăng trưởng sụt giảm xuống còn xấp xỉ 8,2%/năm.

Vấn đề cốt lõi mà tỉnh phải đối mặt là sự suy giảm năng suất lao động, gia tăng hệ số sử dụng vốn đầu tư và mức độ cải thiện môi trường kinh doanh hạn chế. Thu nhập bình quân đầu người của tỉnh năm 1999 ngang bằng với thành phố Đà Nẵng nhưng đến năm 2012 chỉ còn bằng 66% so với Đà Nẵng và bằng 95% mức bình quân cả nước. Thứ hạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của địa phương dao động ở nhóm trung bình, từ vị trí 36 vào năm 2008 lên hạng 34/63 tỉnh thành vào năm 2013.

Luận văn thạc sĩ chính sách công của tác giả Ngô Cát Tường tại Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright tập trung giải quyết hai câu hỏi chính sách then chốt: đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của tỉnh Khánh Hòa và xác định các can thiệp chính sách ưu tiên nhằm thúc đẩy tăng trưởng năng suất bền vững. Phạm vi nghiên cứu bao quát dữ liệu kinh tế - xã hội toàn tỉnh giai đoạn 2001-2013, làm cơ sở thực chứng để xây dựng chiến lược phát triển cụm ngành kinh tế biển mũi nhọn cho giai đoạn phát triển hướng đến năm 2025.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng khung lý thuyết năng lực cạnh tranh địa phương của Michael Porter, được hiệu chỉnh bởi chuyên gia Vũ Thành Tự Anh nhằm phản ánh sát thực tế cấu trúc thể chế kinh tế tại Việt Nam. Trọng tâm của khung phân tích này khẳng định năng suất sử dụng các nguồn lực sẵn có như vốn, đất đai, công nghệ và con người là thước đo duy nhất quyết định mức sống dài hạn và sự thịnh vượng của một địa phương.

Mô hình phân tích đánh giá năng lực cạnh tranh qua 3 tầng bậc cấu trúc:

  1. Lợi thế tự nhiên sẵn có: Vị trí địa lý kinh tế, tài nguyên thiên nhiên, khí hậu và quy mô thị trường dân cư.
  2. Năng lực cạnh tranh cấp độ địa phương: Chất lượng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, chính sách tài khóa, tín dụng và cơ cấu kinh tế vĩ mô.
  3. Năng lực cạnh tranh cấp độ doanh nghiệp: Trình độ phát triển cụm ngành, chất lượng môi trường kinh doanh được đo lường qua chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và mức độ tinh vi trong chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp.

Khái niệm cụm ngành theo mô hình kim cương của Michael Porter được sử dụng làm công cụ chính sách nòng cốt để phân tích sự liên kết không gian, chuỗi giá trị và thể chế hỗ trợ giữa các tác nhân kinh tế trong các ngành kinh tế then chốt.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng phương pháp định tính kết hợp phân tích số liệu thứ cấp chuỗi thời gian 12 năm từ năm 2001 đến năm 2013. Dữ liệu được trích xuất từ Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê tỉnh Khánh Hòa, báo cáo khảo sát chỉ số PCI của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cùng báo cáo chuyên ngành của các sở, ban, ngành địa phương. Cỡ mẫu bao phủ toàn diện hoạt động của 85 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 1,23 tỷ USD, 64 doanh nghiệp chế biến thủy sản và toàn bộ hệ thống cơ sở lưu trú, vận tải trên địa bàn tỉnh.

Nghiên cứu áp dụng phương pháp phân tích dịch chuyển cấu phần để bóc tách nguồn gốc tăng trưởng năng suất lao động giai đoạn 2008-2012 thành 3 thành tố: hiệu ứng nội ngành, hiệu ứng tĩnh và hiệu ứng động. Phương pháp này giúp xác định chính xác năng suất tăng do nội tại các ngành chuyển biến hay do sự dịch chuyển của dòng lao động giữa các khu vực kinh tế, từ đó cung cấp bằng chứng định lượng vững chắc cho các đề xuất chính sách công.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu chỉ ra 4 phát hiện căn bản về thực trạng nền kinh tế và năng lực cạnh tranh tỉnh Khánh Hòa:

Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế đang mất dần động lực nội sinh khi năng suất lao động tăng chậm hơn tốc độ tăng của tiền lương danh nghĩa và hệ số sử dụng vốn ngày càng tăng cao. Kết quả phân tích dịch chuyển cấu phần cho thấy đóng góp của hiệu ứng nội ngành đạt mức 7,35, trong khi hiệu ứng tĩnh ghi nhận mức âm 1,06 và hiệu ứng động đạt mức âm 0,81. Điều này chứng minh sự dịch chuyển cơ cấu lao động trong tỉnh đang kéo giảm năng suất chung của toàn nền kinh tế.

Thứ hai, hiện tượng dịch chuyển lao động ngược giữa các ngành kinh tế diễn ra tiêu cực. Giai đoạn 2008-2012, số lượng lao động tại khu vực công nghiệp có năng suất lao động cao nhất tỉnh đã sụt giảm 8%, trong khi lao động khu vực nông nghiệp có năng suất thấp nhất lại gia tăng hơn 23%. Đến năm 2012, năng suất lao động khu vực công nghiệp đạt giá trị cao gấp 2 lần khu vực dịch vụ và cao gấp hơn 7 lần khu vực nông nghiệp.

Thứ ba, cơ cấu thành phần kinh tế bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Tỷ trọng khu vực có vốn đầu tư nước ngoài trong cơ cấu kinh tế sụt giảm từ 9,6% năm 2006 xuống còn 6,7% năm 2012. Ngược lại, khu vực kinh tế ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng lớn nhất với 64,4% tổng sản phẩm trên địa bàn năm 2012 nhưng có tới 97,2% số doanh nghiệp thuộc quy mô nhỏ và siêu nhỏ với quy mô dưới 200 lao động và 86% số doanh nghiệp có vốn dưới 10 tỷ đồng, chủ yếu cạnh tranh bằng giá rẻ và mức độ tinh thông quản trị thấp.

Thứ tư, tiềm năng phát triển giữa ba cụm ngành mũi nhọn có sự phân hóa sâu sắc. Cụm ngành du lịch đạt mức tăng trưởng khách ấn tượng từ 1,1 triệu lượt năm 2006 lên 2,3 triệu lượt năm 2012, thời gian lưu trú bình quân của khách quốc tế đạt 2,6 ngày, vượt xa mức bình quân cả nước là 1,8 ngày. Tuy nhiên, nguồn thu từ phòng lưu trú và ăn uống chiếm hơn 75% tổng doanh thu du lịch, thể hiện mô hình tăng trưởng theo chiều rộng. Cụm ngành chế biến thủy sản sở hữu 36 doanh nghiệp với 45 nhà máy đạt chuẩn xuất khẩu sang thị trường Châu Âu nhưng thiếu chuỗi liên kết giá trị gia tăng cao. Cụm ngành đóng tàu phụ thuộc lớn vào nhập khẩu linh kiện, giá trị gia tăng nội địa thấp và phát sinh nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng đối với môi trường sinh thái biển.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm được minh họa rõ nét khi tổng hợp qua biểu đồ phân rã ba hiệu ứng năng suất lao động và ma trận đánh giá điều kiện tiền đề cụm ngành. Biểu đồ dịch chuyển cấu phần phản ánh bức tranh nghịch lý: dù từng ngành riêng lẻ nỗ lực cải tiến kỹ thuật để gia tăng năng suất nội ngành, dòng dịch chuyển lao động địa phương lại chảy ngược về khu vực nông nghiệp có giá trị gia tăng thấp do khu vực công nghiệp bị chững lại từ sau năm 2007.

Nguyên nhân chính xuất phát từ môi trường kinh doanh chưa thực sự thông thoáng, thể hiện qua các chỉ số thành phần PCI như thiết chế pháp lý, đào tạo lao động và tính năng động của chính quyền còn ở mức trung bình. Khi so sánh với Đà Nẵng, Khánh Hòa bộc lộ sự thua kém về chính sách thu hút FDI công nghệ cao và cải cách hành chính. Sự phát triển thiếu quy hoạch đồng bộ của ngành công nghiệp đóng tàu nặng ven bờ vịnh Cam Ranh và vịnh Vân Phong đã tạo ra xung đột tài nguyên trực tiếp với hoạt động khai thác du lịch biển cao cấp và vùng nuôi trồng thủy sản bền vững.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực chứng, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp can thiệp chính sách có tính thực thi cao:

  1. Ưu tiên tập trung nguồn lực phát triển cụm ngành Du lịch chiều sâu Ủy ban nhân dân tỉnh cùng Sở Du lịch chủ trì lộ trình giai đoạn 2015-2020: Nâng tỷ trọng đóng góp trực tiếp của ngành du lịch từ mức 5,8% lên tối thiểu 8-10% tổng sản phẩm trên địa bàn. Chuyển dịch mạnh mẽ từ du lịch tham quan thuần túy sang du lịch nghỉ dưỡng cao cấp, du lịch hội nghị MICE, thể thao biển và khám phá di sản văn hóa Tháp Bà Ponagar, Am Chúa. Đa dạng hóa dịch vụ giải trí về đêm để tăng mức chi tiêu bình quân của du khách quốc tế thêm 25-30%.

  2. Tái cấu trúc và chuẩn hóa không gian cụm ngành Chế biến thủy sản Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp Sở Công Thương triển khai giai đoạn 2015-2018: Di dời các cơ sở chế biến thủy sản phân tán vào khu công nghiệp Suối Dầu và các cụm công nghiệp tập trung có hệ thống xử lý nước thải chuẩn hóa. Nâng tỷ lệ nhà máy chế biến đạt tiêu chuẩn xuất khẩu sang thị trường khó tính như Liên minh Châu Âu, Hoa Kỳ và Nhật Bản từ 56% lên trên 80%, đồng thời thiết lập liên kết chặt chẽ giữa 64 doanh nghiệp chế biến với ngư dân đánh bắt xa bờ.

  3. Hạn chế phân bổ nguồn vốn và ưu đãi đối với cụm ngành Đóng tàu Sở Kế hoạch và Đầu tư tham mưu chính sách cho giai đoạn 2015-2020: Ngừng cấp mới các gói hỗ trợ tín dụng ưu đãi từ ngân sách địa phương và thắt chặt quy chuẩn cấp phép vị trí mặt nước đối với các dự án đóng tàu vỏ thép gây nguy cơ ô nhiễm môi trường. Kiểm soát nghiêm ngặt quy trình xử lý xỉ hàn, mạt sắt, dầu mỡ tại các cơ sở đóng tàu hiện hữu nhằm bảo vệ tuyệt đối hệ sinh thái rạn san hô vịnh Nha Trang và vịnh Vân Phong.

  4. Cải cách đồng bộ môi trường kinh doanh và chất lượng nguồn nhân lực Sở Nội vụ phối hợp với Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh giai đoạn 2015-2020: Đưa chỉ số năng lực cạnh tranh PCI của tỉnh vươn lên nhóm 15 tỉnh thành dẫn đầu cả nước. Đẩy mạnh đào tạo nghề kỹ thuật thực hành thay vì chỉ tập trung đào tạo đại học, giải quyết dứt điểm nghịch lý thừa thầy thiếu thợ để nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ mức 13,7% năm 2012 lên trên 25% vào năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và khung phân tích của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách cấp tỉnh: Cán bộ lãnh đạo thuộc Ủy ban nhân dân, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công Thương tại tỉnh Khánh Hòa và các tỉnh ven biển Duyên hải Nam Trung Bộ có thể sử dụng luận văn làm tài liệu căn cứ để xây dựng quy hoạch kinh tế - xã hội, điều chỉnh chính sách thu hút đầu tư FDI và thiết kế chiến lược cụm ngành.

  2. Hiệp hội ngành nghề và lãnh đạo doanh nghiệp: Các doanh nghiệp thuộc ngành du lịch, thủy sản và công nghiệp biển có thêm bức tranh toàn cảnh về chuỗi cung ứng, cấu trúc thị trường xuất khẩu và xu hướng chi tiêu của khách hàng để tái cấu trúc chiến lược kinh doanh và chủ động liên kết cụm ngành.

  3. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên sau đại học: Các nhà nghiên cứu thuộc khối ngành Chính sách công, Kinh tế phát triển, Quản lý kinh tế có thể tham khảo phương pháp luận kết hợp mô hình kim cương của Michael Porter với kỹ thuật phân tích dịch chuyển cấu phần trong đánh giá kinh tế địa phương.

  4. Các tổ chức tư vấn phát triển và nhà đầu tư chiến lược: Định chế tài chính, các nhà đầu tư hạ tầng khu công nghiệp và bất động sản nghỉ dưỡng có cơ sở dữ liệu xác thực về hiện trạng hạ tầng giao thông, sân bay Cam Ranh, cảng biển và nguồn nhân lực để đưa ra quyết định đầu tư dài hạn.

Câu hỏi thường gặp

  1. Nguyên nhân chính khiến tốc độ tăng trưởng kinh tế của Khánh Hòa sụt giảm sau năm 2010 là gì? Tốc độ tăng trưởng suy giảm từ mức bình quân 10,7%/năm giai đoạn 2001-2010 xuống còn xấp xỉ 8,2%/năm giai đoạn 2011-2013 chủ yếu do khu vực công nghiệp đạt ngưỡng bão hòa, đóng góp của khu vực FDI sụt giảm từ 9,6% xuống 6,7% tổng sản phẩm trên địa bàn và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư có xu hướng suy giảm rõ rệt.

  2. Tại sao phát triển cụm ngành lại là công cụ chính sách quan trọng cho tỉnh Khánh Hòa? Phát triển cụm ngành giúp giải quyết bài toán môi trường kinh doanh chưa đồng bộ và khắc phục sự phân tán nguồn lực. Thông qua việc tạo lập mạng lưới liên kết địa lý giữa doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và cơ quan nhà nước, cụm ngành sẽ tạo ra tính kinh tế theo quy mô, thu hút công nghệ hiện đại và nâng cao năng suất tổng thể.

  3. Vì sao nghiên cứu khuyến nghị hạn chế đầu tư công vào ngành đóng tàu? Ngành đóng tàu tại địa phương chủ yếu thực hiện gia công thân vỏ giá trị gia tăng thấp, phụ thuộc gần như hoàn toàn vào máy móc nhập khẩu do ngành phụ trợ trong nước chưa phát triển. Hoạt động này tạo ra lượng lớn rác thải công nghiệp, gây nguy cơ ô nhiễm nặng nề và xung đột trực tiếp với cụm ngành du lịch biển.

  4. Sự dịch chuyển lao động ngược tại địa phương đã ảnh hưởng đến năng suất ra sao? Giai đoạn 2008-2012, lao động tại khu vực công nghiệp có năng suất cao nhất giảm 8%, trong khi lao động nông nghiệp có năng suất thấp nhất lại tăng hơn 23%. Sự dịch chuyển ngược này tạo ra hiệu ứng tĩnh âm 1,06 và hiệu ứng động âm 0,81, trực tiếp kéo giảm tốc độ tăng trưởng năng suất lao động chung.

  5. Những rào cản lớn nhất trong chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Khánh Hòa là gì? Chỉ số PCI của tỉnh năm 2013 xếp hạng 34/63 tỉnh thành do các chỉ số thành phần quan trọng còn ở mức thấp: thiết chế pháp lý chưa tạo dựng niềm tin vững chắc, chất lượng dịch vụ đào tạo lao động chưa đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và tỷ lệ doanh nghiệp tham gia phản biện chính sách thông qua hiệp hội chỉ đạt 23,3%.

Kết luận

  • Luận văn xác lập bằng chứng thực nghiệm rõ ràng về sự suy giảm năng suất lao động và những điểm nghẽn thể chế cản trở năng lực cạnh tranh của tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2001-2013.
  • Kết quả phân tích dịch chuyển cấu phần chỉ ra nghịch lý dịch chuyển lao động ngược từ khu vực công nghiệp năng suất cao sang khu vực nông nghiệp năng suất thấp.
  • Đánh giá tiềm năng cụm ngành khẳng định tính tất yếu của việc ưu tiên phát triển chiều sâu cụm ngành du lịch, tái quy hoạch cụm ngành chế biến thủy sản và hạn chế nguồn lực công cho cụm ngành đóng tàu.
  • Đóng góp học thuật quan trọng của luận văn là việc bản địa hóa thành công khung phân tích năng lực cạnh tranh địa phương của Michael Porter vào bối cảnh thực tiễn của một tỉnh ven biển miền Trung Việt Nam.
  • Hệ thống giải pháp chính sách công cung cấp lộ trình thực thi xuyên suốt giai đoạn 2015-2020 nhằm hiện thực hóa mục tiêu đưa tỉnh Khánh Hòa trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2025.

Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và lãnh đạo doanh nghiệp quan tâm đến phát triển kinh tế vùng Duyên hải Nam Trung Bộ có thể khai thác các mô hình phân tích và dữ liệu từ luận văn để hoạch định chiến lược nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh cho đơn vị của mình.