Luận văn thạc sĩ ueb nâng cao năng lực cạnh tranh ngành sữa việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Luận văn thạc sĩ kinh tế nghiên cứu ueb nâng cao năng lực cạnh tranh ngành sữa việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề

Chuyên ngành

Kinh tế quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

155
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

1.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.5. Kết quả đóng góp của luận văn

1.6. Bố cục luận văn

2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH SỮA VIỆT NAM

2.1. Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh

2.1.1. Khái niệm cạnh tranh

2.1.2. Khái niệm năng lực cạnh tranh

2.1.3. Khái niệm lợi thế cạnh tranh

2.2. Các vấn đề liên quan đến năng lực cạnh tranh của ngành

2.2.1. Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành

2.2.2. Hội nhập kinh tế quốc tế

2.2.2.1. Sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập kinh tế

2.2.3. Kinh nghiệm phát triển ngành sữa của các nước thế giới và bài học cho Việt Nam

2.2.3.1. Chiến lược phát triển của Trung Quốc
2.2.3.2. Chiến lược phát triển của Đài Loan
2.2.3.3. Chiến lược phát triển Ấn Độ
2.2.3.4. Chiến lược phát triển một số nước ASEAN, Israel, Sri Lanka
2.2.3.5. Tổng kết kinh nghiệm của các nước
2.2.3.6. Bài học rút ra cho Việt Nam

3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Phương pháp thu thập dữ liệu

3.1.1. Thu thập thông tin dữ liệu thứ cấp

3.1.2. Thu thập thông tin dữ liệu sơ cấp

3.2. Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu

3.2.1. Phân tích các chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh

3.2.2. Mô Hình kim cương

3.2.3. Ma trận SWOT

3.2.4. Các phương pháp khác

4. THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH NGÀNH SỮA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

4.1. Tổng quan về ngành sữa Việt Nam

4.2. Tổng quan ngành sữa thế giới

4.3. Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của ngành sữa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

4.3.1. Các vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế với ngành sữa Việt Nam

4.3.2. Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngành trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

4.3.3. Hình thành ma trận SWOT

4.4. Kết luận chương 3

5. ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH SỮA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

5.1. Định hướng quy hoạch Ngành của Bộ Công thương tới năm 2020 và dự báo tình hình sữa tới năm 2020

5.1.1. Nội dung công văn

5.1.2. Dự báo tình hình ngành sữa 2015 – 2020

5.2. Đề xuất một số giải pháp từ kết quả phân tích mô hình SWOT nâng cao năng lực cạnh tranh

5.2.1. Giải pháp S-O: Chiến lược hội nhập về phía sau, phía trước và hội nhập kinh tế quốc tế sâu

5.2.2. Giải pháp S-T: Chiến lược nâng cao năng lực nghiên cứu, sản xuất,…

5.2.3. Giải pháp W-O: Chiến lược Marketing và phát triển thương hiệu

5.2.4. Giải pháp W-T: Chiến lược phát triển nhóm sản phẩm và phân khúc thị trường

5.3. Đề xuất các kiến nghị với cơ quan quản lý

5.3.1. Kiến nghị với Nhà Nước

5.3.2. Kiến nghị với Ngành, Bộ Công thương

5.4. Kết luận chương 4

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Năng Lực Cạnh Tranh Ngành Sữa Việt Nam

Ngành sữa Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Từ năm 2000 đến nay, mức tiêu thụ sữa đã tăng đáng kể, từ 8,09 lít/người/năm lên 14,81 lít/người/năm vào năm 2008. Tuy nhiên, ngành sữa vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là sự cạnh tranh từ các sản phẩm nhập khẩu. Việc nâng cao năng lực cạnh tranh là cần thiết để bảo vệ thị trường nội địa và mở rộng xuất khẩu.

1.1. Khái Niệm Năng Lực Cạnh Tranh Ngành Sữa

Năng lực cạnh tranh của ngành sữa được định nghĩa là khả năng của các doanh nghiệp trong việc cung cấp sản phẩm chất lượng cao với giá cả hợp lý. Điều này bao gồm việc cải thiện quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và phát triển thương hiệu.

1.2. Tình Hình Thực Tế Ngành Sữa Việt Nam

Hiện tại, ngành sữa Việt Nam có khoảng 72 doanh nghiệp, trong đó hơn 50 doanh nghiệp là nước ngoài. Sữa bột ngoại chiếm 70% thị phần, cho thấy sự phụ thuộc lớn vào nguyên liệu nhập khẩu. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc phát triển nguồn nguyên liệu trong nước.

II. Thách Thức Đối Với Ngành Sữa Việt Nam Trong Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế

Hội nhập kinh tế quốc tế mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít thách thức cho ngành sữa Việt Nam. Sự giảm thuế nhập khẩu và các rào cản thương mại đang tạo điều kiện cho các sản phẩm ngoại xâm nhập vào thị trường nội địa. Điều này đòi hỏi ngành sữa phải có những chiến lược phù hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh.

2.1. Áp Lực Từ Các Sản Phẩm Nhập Khẩu

Sự gia tăng sản phẩm sữa nhập khẩu từ các nước phát triển đã tạo ra áp lực lớn cho các doanh nghiệp trong nước. Các sản phẩm này thường có chất lượng cao và giá cả cạnh tranh, khiến cho sản phẩm nội địa gặp khó khăn trong việc chiếm lĩnh thị trường.

2.2. Vấn Đề Chất Lượng Sản Phẩm

Chất lượng sản phẩm sữa nội địa vẫn chưa đáp ứng được kỳ vọng của người tiêu dùng. Nhiều doanh nghiệp chưa đầu tư đúng mức vào công nghệ sản xuất hiện đại, dẫn đến chất lượng sản phẩm không đồng đều.

III. Phương Pháp Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Ngành Sữa Việt Nam

Để nâng cao năng lực cạnh tranh, ngành sữa Việt Nam cần áp dụng một số phương pháp chiến lược. Việc cải tiến quy trình sản xuất, đầu tư vào công nghệ mới và phát triển thương hiệu là những yếu tố quan trọng. Ngoài ra, cần có sự hỗ trợ từ chính sách của nhà nước để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp.

3.1. Đầu Tư Vào Công Nghệ Mới

Việc áp dụng công nghệ mới trong sản xuất sữa sẽ giúp nâng cao chất lượng sản phẩm và giảm chi phí sản xuất. Các doanh nghiệp cần tìm kiếm các giải pháp công nghệ tiên tiến để cải thiện quy trình sản xuất.

3.2. Phát Triển Thương Hiệu

Xây dựng thương hiệu mạnh là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành công của ngành sữa. Các doanh nghiệp cần tập trung vào việc quảng bá sản phẩm và tạo dựng lòng tin với người tiêu dùng.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu Ngành Sữa

Nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng các chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh đã mang lại những kết quả tích cực cho ngành sữa Việt Nam. Các doanh nghiệp đã bắt đầu cải thiện chất lượng sản phẩm và mở rộng thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua.

4.1. Kết Quả Từ Các Doanh Nghiệp Tiêu Biểu

Một số doanh nghiệp như Vinamilk đã có những bước tiến đáng kể trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh. Họ đã đầu tư mạnh vào công nghệ và phát triển sản phẩm mới, từ đó gia tăng thị phần.

4.2. Bài Học Kinh Nghiệm Từ Các Nước Khác

Các nước như Trung Quốc và Ấn Độ đã có những chiến lược phát triển ngành sữa hiệu quả. Việt Nam có thể học hỏi từ những kinh nghiệm này để áp dụng vào thực tiễn.

V. Kết Luận Và Tương Lai Của Ngành Sữa Việt Nam

Ngành sữa Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Việc nâng cao năng lực cạnh tranh là điều cần thiết để đảm bảo sự phát triển bền vững. Tương lai của ngành sữa phụ thuộc vào khả năng thích ứng và đổi mới của các doanh nghiệp.

5.1. Triển Vọng Phát Triển Ngành Sữa

Với sự gia tăng nhu cầu tiêu thụ sữa trong nước và quốc tế, ngành sữa Việt Nam có tiềm năng phát triển lớn. Tuy nhiên, cần có những chiến lược rõ ràng để tận dụng cơ hội này.

5.2. Định Hướng Chính Sách Hỗ Trợ Ngành

Chính phủ cần có những chính sách hỗ trợ cụ thể cho ngành sữa, từ việc đầu tư vào nghiên cứu phát triển đến việc tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận thị trường.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueb nâng cao năng lực cạnh tranh ngành sữa việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH SỮA VIỆT NAM. Chƣơng 2:PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Chƣơng 3:THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH NGÀNH SỮA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ. Chƣơng 4: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH SỮA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ.

Kết luận bài. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH SỮA VIỆT NAM 1. Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh. Khái niệm cạnh tranh.

“Cạnh tranh” là một phạm trù kinh tế cơ bản, đề tài xin điểm lại các lý thuyết cạnh tranh trong lịch sử nhƣ sau: Theo K. Marx khái niệm cạnh tranh: "Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà Tư bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch." (Văn Hảo, 2002, trang 30 -32) Hai nhà kinh tế học Mỹ P.Nordhaus trong cuốn Kinh tế học (xuất bản lần thứ 12) cho rằng “Cạnh tranh (Competition) là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng ,thị trường”. Họ còn đồng nhất cạnh tranhvới cạnh tranh hoàn hảo (PerfectCompetition). Trong báo cáo về cạnh tranh toàncầu năm 2003 tại diễn đàn Liên hợpquốc thì cho rằng cạnh tranh đối vớimột quốc gia là "Khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt đựơc các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng các thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tính trên đầu người theo thời gian”.

(Verner Tomas, 2011) Ở Việt Nam, theo Tôn Thất Nguyễn Thiêm (2004) trong cuốn “Thị trƣờng, chiến lƣợc, cơ cấu: cạnhtranh về giá trị gia tang, định vị và phát triển DN” thì “cạnh tranh trong thương trường không phải là diệt trừ đối thủ của mình mà chính là phải mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hoặc/và mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không lựa chọn đối thủ cạnh tranh của mình”. Từ những định nghĩa trên, có thể thấy về cơ bản, cạnh tranh là quá trình một chủ thể nỗ lực vƣợt qua đối thủ củamình để đạt đƣợc một hay một số mục tiêu nhất định. 9 Cạnh tranh đƣợc hiểu là sự ganh đua giữa các nhà kinh doanh trên thị trƣờng nhằm giành đƣợc ƣu thế hơn về cùng một loại sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ, về cùng một loại khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh.Porter - ngƣời đƣợc coi là cha đẻ của lý thuyết cạnh tranh hiện đại, cho rằng: “Cạnh tranh không phải là cung cấp cái tốt nhất mà là tạo ra sự khác biệt. Vì cái tốt nhất không phải người tiêu dùng nào cũng có thể mua được, do tốt nhất thường là nhiều tiền nhất”.

Các yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh là: hiệu quả, chất lƣợng, sự cải tiến và sự đáp ứng khách hàng. Khái niệm năng lực cạnh tranh. Theo quan niệm tổng hợp của Van Duren, Martin và Westgren thì năng lực cạnh tranh là khả năng sáng tạo ra và duy trì lợi nhuận và thị phần trên các thị trƣờng trong và ngoài nƣớc , các chỉ số đánh giá năng suất lao động, công nghệ, tổng năng suất các yếu tố sản xuất, chi phí cho nghiên cứu và phát triển, chất lƣợng và tính khác biệt của sản phẩm, chi phí đầu vào…( Siegfried P. Gudergan, 2001) Michael Porter cho rằng năng lực cạnh tranh là khả năng sáng tạo ra những sản phẩm có qui trình công nghệđộc đáo để tạo ra giá trị gia tăng cao, phù hợp với nhu cầu khách hàng, có chi phí thấp, năng suất cao nhằm tăng lợi nhuận.

(Porter, 1985) Theo định nghĩa của Việt Nam: “Năng lực cạnh tranh (còn gọi là sức cạnh tranh; Anh: Competitive Power; Nga: Cancurentia; Pháp: Capacité deoncurrence), khả năng giành được thị phần lớn trướccác đối thủ cạnh tranh trên thị trờng, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn bộ thị phần của đồng nghiệp.” (Từ điển thuật ngữ kinh tế học, 2001, trang 349) Trong quá trình cạnh tranh với nhau, để giành lợi thế về phía mình, các chủ thể phải áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp để duy trì và phát triển vị thế của mình trên thị trƣờng, các biện pháp này thể hiện một sức mạnh nào đó của chủ thể. Nên hiện nay, các thuật ngữ “năng lực cạnh tranh”, “sức cạnh tranh” và “khả năng cạnh tranh” đƣợc sử 10 dụng nhiều ở Việt Nam, trong khi thông dụng trong tiếng Anh đều sử dụng là “competitiveness”, cho nên chúng cùng một nghĩa và có thể thay thế cho nhau. Do các chủ thể cạnh tranh khác nhau nên việc phân biệt về quan niệm năng lực cạnh tranh cũng đƣợc phân chia thành các cấp độ khác nhau. Năng lực cạnh tranh đƣợc phân thành 4 cấp độ là: Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa; Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp; Năng lực cạnh tranh của ngành; Năng lực cạnh tranh của quốc gia.

Năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Theo TS Nguyễn Văn Thanh (2004): “Năng lực cạnh tranh cấp sản phẩm được hiểu là khả năng sản phẩm có được nhằm duy trì được vị thế của nó một cách lâu dài trên thị trường cạnh tranh”. Mỗi sản phẩm do từng nhà sản xuất đƣa ra thị trƣờng sẽ đƣợc ngƣời tiêu dùng đón nhận qua việc mua hay không mua sản phẩm đó. Để ngƣời tiêu dùng thừa nhận và đánh giá cao, mỗi sản phẩm cần có lợi thế cạnh tranh so với các sản phẩm cùng loại khác.

Ƣu thế này có thể là ƣu thế về giá (giá bán thấp hơn), hoặc ƣu thế về giá trị khác biệt so với các sản phẩm cùng loại. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm có thể đƣợc đánh giá thông qua các khía cạnh: (i) giá sản phẩm, (ii) sự vƣợt trội về chất lƣợng sản phẩm, mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm, thƣơng hiệu… so với đối thủ cạnh tranh trên cùng một phân đoạn thị trƣờng vào cùng một thời điểm. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Khái niệm năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp đƣợc đềcập đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm1980. Theo Aldington Report (1985) “Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế.

Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của Doanh nghiệp và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ Doanh nghiệp”. Năm 1994, địnhnghĩa này đƣợc nhắc lại trong “Sáchtrắng về NLCT của Vƣơng quốc Anh”(1994). 11 Năm 1998, Bộ thƣơng mại vàCông nghiệp Anh đƣa ra định nghĩa“Đối với doanh nghiệp, NLCT là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả và vào đúng thời điểm. Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất và hiệu quả hơn các doanh nghiệpkhác”.

Theo Nguyễn Văn Thanh (2003) “ Năng lực cạnh tranh là khả năng của một công ty tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh các thị trường mới”. (Nguyễn văn Thanh, 2003) Nhƣ vậy, năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp đƣợc hiểu là khả năng doanh nghiệp tạo ra đƣợc lợi thế cạnh tranh, có năng suất và chất lƣợng sản phẩm cao hơn của đối thủ, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập và lợi nhuận cao để tồn tại và phát triển bền vững. Năng lực cạnh tranh của ngành: Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế OECD (Organization for Economic Cooperation and Development) đã định nghĩa về khái niệm năng lực cạnh tranh của ngành nhƣ sau: “Năng lực cạnh tranh của ngành là khả năng của ngành trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. (OECD, 2015) Theo Liên Hợp Quốc: “năng lực cạnh tranh của một ngành có thể đánh giá thông qua khả năng sinh lời của các doanh nghiệp trong ngành, cán cân ngoại thương của ngành, cán cân đầu tư nước ngoài (đầu tư ra nước ngoài và nước ngoài đầu tư vào) và những thước đo trực tiếp về chi phí, chất lượng ở cấp ngành.” (Untiled Nations, 2001) Năng lực cạnh tranh cấp ngành thƣờng đƣợc xem là dấu hiệu phù hợp với về sức mạnh của nền kinh tế đối với ngành liên quan hơn là năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Sự thành công của một doanh nghiệp, của một quốc gia có thể là nhờ sở hữu những yếu tố đặc thù của doanh nghiệp mà khó có thể nhân rộng. Ngƣợc lại, sự thành công của một số doanh nghiệp trong một ngành thƣờng đƣợc xem là bằng 12 chứng thuyết phục về sự sở hữu những yếu tố đặc thù của quốc gia và có thể nhân rộng và cải thiện đƣợc. Tổng cộng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp riêng lẻ không có nghĩa là năng lực cạnh tranh của cả một ngành. Năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia: Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) năm 1997 đã nêu ra: “ năng cạnh tranh của một quốc gia là năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc dân nhằm đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác”.

(The World Economic Forum, 2015) Năng lực cạnh tranh quốc gia đƣợc đánh giá theo mô hình của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), dựa trên cơ sở chỉ số cạnh tranh toàn cầu (GCI) đƣợc lƣợng hóa từ 12 chỉ tiêu, chia thành ba nhóm chỉ tiêu thành phần. Trong đó, nhóm các yếu tố cơ bản có bốn chỉ tiêu là: thể chế, kết cấu hạ tầng, ổn định kinh tế vĩ mô, y tế và giáo dục phổ thông; nhóm các yếu tố cải thiện hiệu quả có 10 chỉ tiêu là: đào tạo và giáo dục bậc cao, hiệu quả thị trƣờng hàng hóa, hiệu quả thị trƣờng lao động, trình độ phát triển của thị trƣờng tài chính, mức độ sẵn sàng về công nghệ, quy mô thị trƣờng; nhóm nhân tố sáng tạo có hai chỉ tiêu là: sự tinh tế của doanh nghiệp và đổi mới. Mỗi chỉ tiêu trên lại bao gồm một số chỉ tiêu chi tiết, tổng số có 111 chỉ tiêu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ