Chương 1, tác giả nêu lên bối cảnh chính sách nhằm khẳng định BR-VT cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh cụm ngành du lịch, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, nhằm thúc đầy tăng trưởng kinh tế. Chương 2 tác giả mô tả khung phân tích và các lý thuyết dùng để phân tích cụm ngành du lịch, đồng thời sơ lược các nghiên cứu liên quan đến phát triển du lịch và các bài học kinh nghiệm phát triển du lịch trong nước và quốc tế. Chương 3 tác giả phân tích cụm ngành du lịch BR-VT. Chương 4, tác giả đưa ra kết luận và các khuyến nghị chính sách.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -5- CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU 2.1 Lý thuyết về năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh được các cấp chính quyền quan tâm nhằm định vị năng lực nội tại của địa phương. Và trên cơ sở đó, các nhà hoạch định chính sách có thể đưa ra các quyết định nhằm đạt hiệu quả phát triển lợi thế của địa phương. Có nhiều lý thuyết về năng lực cạnh tranh, trong khuôn khổ bài viết này tác giả sử dụng khung lý thuyết về năng lực cạnh tranh quốc gia của Michael Porter (1990, 1998, 2008) và được điều chỉnh cho phân tích năng lực cạnh tranh cấp (NLCT) tỉnh bởi Vũ Thành Tự Anh (2012).
Theo lý thuyết NLCT của Michael Porter, yếu tố duy nhất quyết định tới NLCT là năng suất, trong đó năng suất được đo bằng giá trị gia tăng do một đơn vị lao động (hay một đơn vị vốn) tạo ra trong một đơn vị thời gian. Năng suất là nhân tố quyết định quan trọng nhất quyết định thu nhập và mức sống trong dài hạn. Để tăng trưởng năng suất bền vững đòi hỏi nền kinh tế phải được liên tục nâng cấp (Micheal Poter, 2008). Như vậy, yếu tố cốt lõi của năng lực cạnh tranh là năng suất, và theo Michael Porter các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và tốc độ tăng trưởng năng suất gồm 3 nhóm: (i) Các yếu tố tự nhiên của quốc gia; (ii) Các yếu tố NLCT cấp độ vĩ mô; và (iii) Các yếu tố NLCT cấp độ vi mô.
Tuy nhiên, trong khuổn khổ nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của tỉnh BR-VT, tác giả sử dụng khung phân tích được điều chỉnh cho địa phương của Vũ Thành Tự Anh (2012) được trình bày trong hình sau: Hình 2.1 Khung phân tích NLCT cấp độ địa phương Nguồn: Vũ Thành Tự Anh (2012) 2.2 Lý thuyết về cụm ngành LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -6- Khái niệm cụm ngành là một thuật ngữ nhằm mô tả sự tập trung về mặt địa lý của các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong cùng một lĩnh vực, hoặc một số lĩnh vực có liên quan. Theo thời gian khái niệm này được Micheal Porter và nhiều học giả sử dụng rộng rãi và phát triển để mô tả năng lực cạnh tranh ở nhiều cấp độ phân tích bao gồm công ty, ngành, quốc gia và vùng. Trong đánh giá về năng lực cạnh tranh của cụm ngành du lịch BR-VT, tác giả sử dụng khái niệm về cụm ngành theo định nghĩa của Michael Porter. Theo đó: Cụm ngành là “sự tập trung về mặt địa lý của các doanh nghiệp, các nhà cung ứng và các doanh nghiệp có tính liên kết cũng như của các công ty trong các ngành có liên quan và các thể chế hỗ trợ (ví dụ như các trường đại học, cục tiêu chuẩn, hiệp hội thương mại…) trong một số lĩnh vực đặc thù, vừa cạnh tranh vừa hợp tác với nhau”.
Như vậy, cụm ngành được cấu thành bởi hai yếu tố, thứ nhất là sự tập trung về mặt địa lý của các hoạt động kinh doanh. Sự tập trung về mặt địa lý giúp cho các hoạt động của cụm ngành tận dụng được lợi thế so sánh, giảm chi phí giao dịch qua đó đẩy mạnh năng lực cạnh tranh nội tại của cụm ngành. Yếu tố thứ hai là “tính liên kết” của các thành phần trong cùng một cụm ngành, và với các ngành liên quan, và thể chế hỗ trợ. Đây chính là yếu tố cốt lõi để thay đổi năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong cụm.
Với sự liên kết hỗ trợ mang tính cạnh tranh và hợp tác sẽ thức đẩy quá trình hoạt động, tạo ra sự lan tỏa, hiệu ứng theo quy mô cho các doanh nghiệp. Phương pháp đánh giá NLCT dựa vào mô hình kim cương của Micheal Porter bao gồm 4 nhóm yếu tố, tạo thành 4 đỉnh của hình thoi bao gồm: (i) các điều kiện nhân tố sản xuất; (ii) các điều kiện nhu cầu; (iii) các ngành công nghiệp phụ trợ và có liên quan; (iv) bối cảnh cho chiến lược và cạnh tranh của doanh nghiệp. Theo phương pháp này để tạo ra tính đổi mới và làm tăng năng suất ngoài các yếu tố hữu hình như các lợi thế về nhân tố sản xuất, nhu cầu của người tiêu dùng… còn có các nhóm nhân tố vô hình khác ngày càng đóng vai trò quan trọng cho việc cải thiện năng suất, và tăng trưởng năng suất. Ngoài ra, để nhấn mạnh vai trò trong việc hoạch định các chính sách nhằm tạo ra sân chơi bình đẳng, một nhóm yếu tố về vai trò của chính quyền địa phương được điều chỉnh đưa vào mô hình kim cương (hình 2.2 Mô hình kim cương LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -7- Nguồn: Micheal Porter (2008); Vũ Thành Tự Anh (2011) 2.4 Tổng quan một số nghiên cứu trước Theo nghiên cứu của Thôi Ngọc Đoan Thùy (2014), tác giả đã sử dụng khung phân tích năng lực cạnh tranh cấp tỉnh cho BR-VT, qua đó kết luận BR-VT có nhiều tiềm năng để phát triển cụm ngành logistic và cụm ngành du lịch.
Tác giả đã chỉ ra lợi thế của tỉnh BR- VT như: vị trí địa lý và tài nguyên biển đảo, hạ tầng kỹ thuật, trình độ phát triển cụm ngành và chính sách tài khóa. Đồng thời tác giả cũng chỉ ra cản trở đến năng lực cạnh tranh của Tỉnh BR-VT là môi trường kinh doanh, chất lượng nguồn nhân lực thấp, trình độ doanh nghiệp và quy mô địa phương. Tác giả đã phân tích và đưa ra các gợi ý chính sách cho việc phát triển cụm ngành logistics mà chưa đi sâu vào phân tích cụm ngành du lịch. Theo nghiên cứu của Nguyễn Vũ Hà Giang (2012), dựa trên khung phân tích năng lực cạnh tranh, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển cụm ngành du lịch của tỉnh Bình Thuận, tác giả đề xuất các giải pháp chính sách nâng cao năng lực cạnh tranh cụm ngành du lịch như xây dựng hình ảnh điểm đến an toàn thân thiện, tạo ra nhiều không gian và sản phẩm du lịch có tính cạnh tranh cao, nâng cao chất lượng và năng lực của lực lượng lao động trong ngành du lịch.
Tác giả cũng phân tích tính cạnh tranh gay gắt của du lịch nội địa, đặc biệt là cạnh tranh giữa Vũng Tàu và Bình Thuận là hai điểm du lịch biển có vị trí gần nhau, cạnh tranh trực tiếp về điểm đến du lịch biển. Theo nghiên cứu của Vũ Văn Đông (2014) với đề tài Phát triển bền vững du lịch tỉnh BR- VT. Tác giả sử dụng khung phân tích bền vững để nhận diện thực trạng phát triển du lịch bền vững của tỉnh BR-VT. Từ đó đề xuất xây dựng các chiến lược phát triển du lịch đảm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -8- bảo tính bền vững.
Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã sử dụng phương pháp định tính và phương pháp định lượng bằng cách tiến hành khảo sát điều tra bằng phương pháp thang đo bao gồm 12 nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch bền vững tỉnh BR-VT gồm: Kinh tế; Xã hội; Môi trường; Tự nhiên; Nhân văn; Sản phẩm du lịch; Chất lượng dịch vụ; Nguồn nhân lực; Cơ sở hạ tầng; Cơ sở vật chất kỹ thuật, Quản lý nhà nước; Hoạt động phát triển du lịch. Từ kết quả phân tích, tác giả đã chỉ ra để phát triển du lịch bền vững cho tỉnh BR- VT cần tập trung vào các hoạt động kinh tế, các hoạt động xã hội, các hoạt động môi trường và chất lượng sản phẩm dịch vụ. Tuy nhiên nghiên cứu vẫn chưa phân tích đến các yếu tố về năng lực cạnh tranh, tác động cạnh tranh từ những địa phương, điểm đến xung quanh. Nghiên cứu cũng chưa làm rõ được tác động và sự liên kết của các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch BR-VT Theo nghiên cứu của Nguyễn Nam Thắng (2015), tác giả đã xây dựng được mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh cho lĩnh vực du lịch dựa trên các mô hình năng lực cạnh tranh trên thế giới.
Thông qua việc đánh giá tiềm năng và thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch Việt Nam giai đoạn 2020 – 2030, tác giả đã chọn tỉnh BR-VT làm đại điện để tiến hành phân tích mô hình năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch và xếp hạng cạnh tranh phù hợp với thực tiễn. Kết quả phân tích cho thấy năng lực cạnh tranh du lịch của BR- VT ở mức Khá, đạt 2,7/5 điểm. Mặc dù vậy phương pháp định lượng của tác giả sử dụng bảng khảo sát các doanh nghiệp theo phương pháp thang đo chưa đảm bảo tính chính xác, xác thực trong việc đánh giá vì mang tính chủ quan và khả năng nhận thức của người được hỏi. Bên cạnh đó mặc dù có sử dụng mô hình tương tự như mô hình năng lực cạnh tranh của Micheal Porter nhưng tác giả không đánh giá được tính cạnh tranh giữa các cụm ngành du lịch của BR-VT và các điểm đến du lịch của các tỉnh thành hiện có khả năng cạnh tranh cao như Bình Thuận, Khánh Hòa, Đà Nẵng.
Tuy nhiên các nghiên cứu về du lịch của BR-VT đều chỉ ra rằng BR-VT có nhiều lợi thế tự nhiên để phát triển du lịch. Và thực tế năng lực cạnh tranh của ngành du lịch chưa cao, và có sự cạnh tranh của các điểm đến khác trong nước. Vì vậy du lịch BR-VT cần phải có những thay đổi để phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của BR-VT. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -9- CHƯƠNG 3.
PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỤM NGÀNH DU LỊCH TỈNH BÀ RỊA–VŨNG TÀU 3.1 Các điều kiện nhân tố đầu vào 3. Ví trị địa lý và thời tiết khí hậu Vị trí địa lý1 Hình 3.1 Bản đồ du lịch tỉnh Bà Rịa– Vũng Tàu Nguồn: Sở VHTT và Du lịch Tỉnh BR-VT là một trong những trọng điểm du lịch khu vực Đông Nam Bộ và nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nằm trên trục đường xuyên Á có địa giới hành chính chung dài 16,33 km với TP.