Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chương 2: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Chương 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh của VINATEX giai đoạn 2016- 2020 Chương 4: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của VINATEX 7 8 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Ngành Dệt may là một trong số các ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam, do đó thƣờng xuyên nhận đƣợc sự quan tâm của các nhà quản lý, giới DN trong và ngoài nƣớc, giới nghiên cứu khoa học với nhiều đề tài, công trình nghiên cứu khoa học các cấp nhằm giúp các DN may Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế. Đã có nhiều công trình nghiên cứu ở cả trong và ngoài nƣớc tiếp cận từ những góc độ nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, đối tƣợng nghiên cứu, thời gian nghiên cứu và hoàn cảnh nghiên cứu có liên quan đến hoạt động của VINATEX, nhƣ: Vấn đề hiệu quả SXKD; hiệu quả sử dụng vốn; quản trị TCDN của các DN may; Chuỗi cung ứng ngành dệt may,…Có thể kể đến một số các công trình nghiên cứu tiêu biểu trong và ngoài nƣớc liên quan đến Đề tài của Luận án nhƣ sau: 1.1 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Trong nền kinh tế thị trƣờng với bối cảnh toàn cầu hoá và Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mở rộng thì cạnh tranh là hiện tƣợng phổ biến và có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế ở các quốc gia. Việc nghiên cứu năng lực cạnh tranh và lý thuyết về cạnh tranh cũng xuất hiện từ rất sớm với các trƣờng phái nổi tiếng trên thế giới nhƣ: Lý thuyết cạnh tranh cổ điển, lý thuyết cạnh tranh của trƣờng phái tân cổ điển và lý thuyết cạnh tranh hiện đại. Các lý thuyết này đã làm rõ bản chất của cạnh tranh, vai trò và tác động của cạnh tranh, các phƣơng thức cạnh tranh,….
Ngoài các nhà kinh tế cổ điển và các nhà kinh điển, các lý thuyết cạnh tranh gắn với các tên tuổi nổi tiếng của trƣờng phái canh tranh hoàn hảo nhƣ w.và trƣờng phái canh tranh hiện đại nhƣ E.Aglietta, Micheal Porter, Micheal Eairbank,. 9 Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh và việc nghiên cứu năng lực cạnh tranh một cách hệ thống lại đƣợc bắt đầu khá muộn và chỉ mới từ những năm 1980 đến nay. Theo kết quả tổng hợp các công trình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của các nhà kinh tế ngƣời Anh là Buckley, Pass và Prescott, đến năm 1988 có rất ít định nghĩa về năng lực cạnh tranh đƣợc chấp nhận. Porter - một chuyên gia hàng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh lại chỉ ra rằng cho đến năm 1990, năng lực cạnh tranh vẫn chƣa đƣợc hiểu một cách đầy đủ và chƣa có một định nghĩa nào đƣợc chấp nhận một cách thống nhất.
Năm 1996, Waheeduzzan và các cộng sự cho rằng "năng lực canh tranh vẫn là một trong những khái niệm đƣợc hiểu thiếu đầy đủ" (misunderstood concept). Cho đến năm 2004, Henricsson và các cộng sự chỉ rõ rằng khái niệm năng lực canh tranh vẫn còn nhiều tranh cãi giữa các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh tế, các nhà báo, các học giả. Các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh, một số tác giả nhƣ Thorne (2002, 2004), Momay (2002, 2005), Flanagan và cộng sự (2007) đã chỉ ra rằng, bắt đầu từ những năm 1990 đến nay, lý thuyết về năng lực cạnh tranh trên thế giới bƣớc vào thời kỳ "bùng nổ" với số lƣợng công trình nghiên cứu đƣợc công bố rất lớn. * Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp theo quan điểm của lý thuyết cạnh tranh truyền thống có các trƣờng phái nghiên cứu nổi tiếng nhƣ: Kinh tế học Chamberlin, Kinh tế học tổ chức (Industrial Organization economics - IO).
Lý thuyết cạnh tranh trên cơ sở kinh tế học IO (Porter, 1980), cạnh tranh độc quyền (Chamberlin, 1933) thƣờng dựa trên tiền đề là các DN trong cùng ngành có tính đồng nhất về nguồn lực và chiến lƣợc kinh doanh họ sử dụng (Baney,1991). Tuy nhiên, khi môi trƣờng kinh doanh thay đổi và có tác động đến chiến lƣợc kinh doanh thì các thuộc tính khác biệt của DN trong cùng ngành sẽ không thể tồn tại lâu dài vì chúng thƣờng có thể dễ dàng bị các đối thủ cạnh tranh bắt chƣớc, hoặc mua bán trên thị trƣờng nguồn lực (Barney, 1991; Porter, 1980). Kinh tế học tổ chức và kinh tế độc quyền phân tích NLCT trong 10 điều kiện mất cân bằng của thị trƣờng và nền kinh tế độc quyền với giả định DN có lợi thế tuyệt đối về các tài sản, nguồn lực. Do vậy, trong môi trƣờng kinh doanh thay đổi nhanh chóng thì các điều kiện về chí phí, công nghệ, quy mô,.
đã không còn là lợi thế của DN. Mặt khác, đối tƣợng phân tích của kinh tế học tổ chức và cạnh tranh độc quyền đều hƣớng tới các ngành kinh doanh với giả định là các DN trong cùng ngành có điều kiện về tài sản, nguồn lực đồng nhất. Đây là hạn chế lớn nhất trong việc giải thích lợi thế cạnh tranh của các DN trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay. *Nghiên cứu năng lực cạnh tranh từ chuỗi giá trị.
Chuỗi giá trị là một khái niệm đƣợc đƣa ra đầu tiên bởi Porter vào năm 1985 trong cuốn “Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior Performance”. Theo cuốn sách này, chuỗi giá trị là tổng thể các hoạt động liên quan đến sản xuất và tiêu thụ một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó. Trong chuỗi giá trị diễn ra quá trình tƣơng tác giữa các yếu tố cần và đủ để tạo ra một hoặc một nhóm sản phẩm. Các hoạt động phân phối, tiêu thụ sản phẩm - nhóm sản phẩm theo một phƣơng thức nhất định.
Giá trị tạo ra của chuỗi bao gồm tổng các giá trị tạo ra tại mỗi công đoạn của chuỗi. Porter (1985) cho rằng, chuỗi giá trị gồm có 9 hoạt động, trong đó có 5 hoạt động cơ bản và 4 hoạt động bổ trợ. Những hoạt động cơ bản thể hiện một chuỗi những công việc từ cung cấp nguyên vật liệu đầu vào, gia công sản phẩm, phân phối sản phẩm, đến hoạt động bán hàng và các dịch vụ sau bán hàng. Các hoạt động cơ bản này trực tiếp liên quan đến luồng di chuyển (vật lý) của quá trình tạo ra giá trị sử dụng của sản phẩm và đƣa sản phẩm đến với ngƣời sử dụng.
Hoạt động hậu cần đầu vào liên quan đến việc tiếp nhận, lƣu kho và đảm bảo nguyên vật liệu cho sản xuất. Hoạt động sản xuất liên quan đến quá trình chế biến nguyên vật liệu đầu vào thành sản phẩm cuối cùng. Hoạt động hậu cần đầu ra liên quan đến tiếp nhận, lƣu kho và phân phối thành phẩm đến nơi tiêu thụ. Hoạt động marketing và bán hàng liên quan đến việc tạo ra những phƣơng 11 thức và khuyến khích ngƣời mua.
Dịch vụ (sau bán hàng) liên quan đến các hoạt động nhằm duy trì hoặc tăng cƣờng giá trị của sản phẩm. Vì vậy, đây có thể coi là các hoạt động trực tiếp ảnh hƣởng đến NLCT của DN, làm tốt các hoạt động cơ bản này cũng đồng nghĩa sẽ tạo ra NLCT vƣợt trội so với đối thủ. Những hoạt động bổ trợ, tuy không trực tiếp liên quan đến việc tạo ra giá trị sử dụng cho sản phẩm, nhƣng chúng tham gia vào toàn bộ quá trình tạo ra giá trị của các hoạt động cơ bản, có chức năng trợ giúp cho các hoạt động cơ bản. Hoạt động quản trị thu mua kiểm soát sự lƣu chuyển vật tƣ qua chuỗi giá trị từ cung cấp đến sản xuất và đi vào phân phối, chúng góp phần kiểm soát chất lƣợng đầu vào trong quá trình sản xuất, đồng thời hiệu quả của các hoạt động này có thể làm giảm chi phí sản xuất của DN.
Hoạt động nghiên cứu và phát triển (R & D) liên quan đến việc phát triển các sản phẩm mới, các phƣơng pháp công nghệ mới, cho phép giảm chi phí sản xuất hoặc tạo ra những sản phẩm hấp dẫn hơn có thể bán ở mức giá cao hơn. Hoạt động quản trị nguồn nhân lực đảm bảo rằng công ty sử dụng hợp lý những ngƣời có kỹ năng để thực hiện có hiệu quả các hoạt động tạo ra giá trị. Hạ tầng (quản lý) của DN là hoạt động bổ trợ có một đặc trƣng khác so với các hoạt động khác. Hạ tầng của DN là khung quản lý chung của toàn DN, trong đó bao gồm cơ cấu tổ chức, các hệ thống kiểm soát và văn hóa DN.
Vì vậy, có thể coi đây là các hoạt động ảnh hƣởng đến NLCT của DN, DN cần làm tốt các hoạt động bổ trợ sẽ nâng cao NLCT của mình. Chuỗi giá trị tổng quát của Porter (1985, 1998) là một trong những phƣơng pháp đƣợc sử dụng rộng rãi nhất để đại diện cho hoạt động của một công ty và các quy trình kinh doanh. Trong thực tế, Porter (1985,1998) giả định rằng trong chuỗi giá trị các nguồn lực của một DN là phụ thuộc vào hoạt động của nó - và vì thế hình thức chuỗi giá trị của một công ty (các nguồn lực và khả năng nó sử dụng) phụ thuộc vào cơ cấu ngành công nghiệp, các hoạt động chức năng 12 mà DN tập trung vào, các chuỗi giá trị của khách hàng, nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh và liệu DN có một chi phí hoặc sự khác biệt so với đối thủ cạnh tranh. *Theo quan điểm năng lực, khả năng tích hợp cung cấp sự phối hợp cần thiết các nguồn lực của DN và khả năng khác nhau.
Năng lực của một công ty đƣợc tạo ra bằng cách kết hợp và tái kết hợp, tính năng động, và tích hợp thông thƣờng để tạo ra giá trị trong thị trƣờng mục tiêu thông qua việc sản xuất, sử dụng các nguồn lực chiến lƣợc của công ty (Sanchez & Heence, 1996). Khả năng tích hợp bổ sung vào khả năng năng động bằng cách làm cho DN tổ chức nguồn lực và khả năng hoạt động, phát triển hiệu quả nội bộ và cơ sở quản lý tri thức của công ty. Nhƣ vậy, “các nguồn lực và khả năng” đề cập đến tất cả các tài sản mà DN có thể sử dụng để phát triển và triển khai với mục tiêu sản xuất và cung cấp sản phẩm, dịch vụ có tiềm năng lợi nhuận. Tài sản bao gồm tất cả các yếu tố đầu vào tài chính, vật chất, trí tuệ, công nghệ và tổ chức mà DN sử dụng để phát triển, sản xuất, sửa đổi, cải tiến và cung cấp các sản phẩm và dịch vụ của mình cho khách hàng.