Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu bao gồm bối cảnh nghiên cứu, các vấn đề cần được giải quyết Chương 2: Phân tích dữ liệu kết hợp với cơ sở lý thuyết và trình bày kết quả nghiên cứu. Chương 3: Rút ra kết luận và đề xuất những giải pháp có thể thực hiện căn cứ vào kết quả phân tích ở chương 2. Cuối cùng là phần kết luận. Trong phần kết luận đề tài nhấn mạnh lại tầm quan trọng, những phát hiện mới của đề tài.
Đồng thời, phần này cũng đề xuất tóm tắt những 12 giải pháp mang tính khả thi nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành phần mềm Việt Nam. 13 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHO VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHẦN MỀM VIỆT NAM.1 Ngành CNpPM Định nghĩa: Ngành CNpPM là một ngành công nghiệp bao gồm các DN tham gia vào việc phát triển, bảo trì và xuất bản phần mềm máy tính sử dụng cho bất kỳ mô hình kinh doanh nào. Ngành CNpPM cũng bao gồm các dịch vụ về phần mềm, chẳng hạn như đào tạo, tài liệu và tư vấn. 10 Ngành CNpPM Việt Nam sớm được Chính phủ chọn là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn từ gần 10 năm qua.
Điều này được khẳng định trong các chỉ thị CT58/2000, nghị quyết NQ 07/2000, quyết định QĐ 51/2007 và QĐ 50/2009.2 Ngành công nghiệp mũi nhọn Định nghĩa: Ngành công nghiệp mũi nhọn là ngành đảm bảo một số tiêu chí như quy mô ngành (nhân lực, số lượng DN), doanh thu, trình độ công nghệ phải đạt mức trên trung bình của thế giới. Ngoài ra phải đảm bảo phát triển những lợi thế của ngành một cách lâu dài và bền vững. 11 Tuy nhiên, doanh thu cao nhưng lợi nhuận không cao thì cũng không thể coi là có lợi thế cạnh tranh để xếp vào ngành công nghiệp mũi nhọn. Do đo, khó có thể định nghĩa một cách chính xác về ngành công nghiệp mũi nhọn.
Khái niệm ngành công nghiệp mũi nhọn được chấp nhận bởi nhiều chuyên gia kinh tế thì đó phải là ngành có năng lực cạnh tranh so với các nước phát triển, giá trị xuất khẩu và giá trị gia tăng cao. 12 10 Theo định nghĩa của Liên minh DN phần mềm thế giới (BSA) 11 Theo tài liệu giảng dạy của trường đại học Thương mại Hà Nội 12 Theo tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh, GĐ nghiên cứu chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright. 14 Ngành CNpPM được Đảng, Nhà nước xác định là ngành kinh tế tri thức, công nghệ cao, có vai trò quan trọng trong công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, được định hướng phát triển thành ngành kinh tế trọng điểm trong nền kinh tế quốc dân. Nếu đề cập đến doanh thu thì ngành CNpPM đóng góp cho GDP với tỷ lệ khá thấp 13.
Do đó, ngành chưa thể là ngành mũi nhọn nếu xét tiêu chí này. Ngành CNpPM với quy mô hơn 800 DN hoạt động thực, trong đó 95% các DN trong ngành là vừa và nhỏ- DN phần mềm Việt Nam đa số có quy mô vốn nhỏ và tuổi đời khá trẻ. Nhân lực hoạt động trong ngành khoảng 57.000 người với chỉ khoảng 1% DN có trên 500 lao động chứng tỏ quy mô ngành chưa lớn về nhân lực. Năng suất lao động thấp, bình quân là 11.000 đô-la Mỹ/người/năm, bằng 45% so với Ấn Độ và 65% so với Trung Quốc 14.
Nguyên nhân chính là đa số các hợp đồng do Việt Nam đảm nhận có mức độ yêu cầu kỹ thuật còn thấp và đơn giản. Nếu nguồn nhân lực này được nâng cao tay nghề kỹ thuật và DN thực hiện được những đơn hàng có yêu cầu cao thì năng suất lao động sẽ đạt khoảng 22. Về tiêu chí này, ngành CNpPM Việt Nam vẫn chưa đạt chuẩn ngành công nghiệp mũi nhọn. Về trình độ công nghệ thì Việt Nam rất khó chạy đua kịp các nước phát triển 16.
Do đó, chúng ta chỉ có thể tập trung tích lũy vốn và kỹ thuật để xây dựng các DN mạnh, đầu tàu của ngành, đóng vai trò như một cú đấm thép vào các thị trường tiềm năng. Ba mũi nhọn cho ngành CNpPM Việt Nam cần phải đạt được là công nghệ, tạo dựng một số DN chủ lực, địa bàn tập trung 17. Theo sát ba mũi nhọn này Việt Nam sẽ tạo dựng được ngành CNpPM xứng đáng với vai trò ngành công nghiệp mũi nhọn. 13 chỉ tương đương 0,4% GDP năm 2009 14 Theo số liệu khảo sát của Vinasa (2009).
15 Theo nhận định của ông Chu Tiến Dũng, chủ tịch HCA 16 Theo nhận định của ông Phạm Tấn Công, tổng thư ký hiệp hội DN phần mềm Việt Nam. 17 Theo chuyên gia CNTT Nguyễn Chí Công. 15 Tuy nhiên, vốn không phải là yếu tố then chốt trong ngành CNpPM 18. Rõ ràng nếu có vốn, nhưng không có đội ngũ kỹ sư chuyên nghiệp để thực thi các dự án lớn thì bài toán đưa ngành CNpPM Việt Nam trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn vẫn bế tắc.
Bằng chứng là các tập đoàn tầm cỡ như Google đã từng sang Việt Nam, sẵn sàng đầu tư vốn vào Việt Nam để xây dựng các chi nhánh lớn. Nhưng họ không quay trở lại chỉ vì một lí do, nhân lực Việt Nam không đáp ứng được yêu cầu. Họ nhận xét “Người Việt Nam ở nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực phần mềm không hề thua kém bất cứ quốc gia nào, nhưng các kỹ sư Việt Nam trong nước lại có chất lượng không tốt”. Tập đoàn Intel, sau 2 năm đầu tư Việt Nam vẫn loay hoay trong bài toán phát triển quy mô hoạt động, vì không thể triển khai được các dự án lớn trong tình hình thiếu nhân lực chất lượng tại Việt Nam 19.
Do đó, bài toán nhân lực là bài toán khó của không chỉ riêng ngành CNpPM Việt Nam. Để giải quyết căn nguyên bài toán này cần phải có sự phối hợp và quyết tâm của nhiều bộ và ban ngành. Mỗi quốc gia đều có một bối cảnh, nguồn lực nhất định, lợi thế nhất định để cạnh tranh trong một ngành nào đó trên thương trường quốc tế. Các quốc gia thành công là các quốc gia luôn theo đuổi một chiến lược phù hợp với ngành hay một phân đoạn cụ thể.
Các quốc gia thành công trong một ngành nếu bối cảnh quốc gia cung cấp môi trường khuyến khích thành công đó. Ví dụ quốc gia có nhiều nguồn lực về tài nguyên khoáng sản họ sẽ tập trung vào các ngành khai khoáng, quốc gia ngược lại sẽ cố gắng tìm kiếm ở các ngành công nghiệp, dịch vụ khác. Việc tìm kiếm ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh quốc gia đòi hỏi phải được phân lập những điều kiện của từng quốc gia. Hơn thế nữa, Nhà nước phải có những chính sách phù hợp để duy trì lợi thế ngành công nghiệp đã được lựa chọn một cách hợp lý nhằm tạo ra những thế mạnh cạnh tranh bền vững nhất.
18 Theo nhận định của Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh, GĐ nghiên cứu chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright 19 Dự tuyển vào Intel 1000 ứng viên, nhưng chỉ chọn được khoảng 20 ứng viên chất lượng. 16 Bất cứ CP nào cũng ngầm hỗ trợ một số ngành, dù có công khai hay không. Khi đó Nhà nước sẽ đưa ra các chương trình hành động dành riêng cho ngành công nghiệp đó. Hỗ trợ ngành có thể bóp méo tín hiệu của thị trường bằng cách thay đổi động cơ của các DN đang cạnh tranh trong ngành.
Qua một số hoạt động như: cung cấp vốn, nâng cầu nội địa, xây dựng chiến lược toàn ngành…CP sẽ kỳ vọng rằng nâng cao lợi nhuận của ngành. Tuy nhiên, với việc gia nhập WTO ngày càng sâu như hiện nay, thì các CP phải cân nhắc các chính sách hỗ trợ của mình sao cho không vi phạm vào các hiệp định thương mại thế giới. CP đã chọn ngành CNpPM là ngành công nghiệp mũi nhọn vì đây là ngành kinh tế mang lại hàm lượng trí tuệ cao, lợi nhuận lớn, tiềm năng xuất khẩu, sức ảnh hưởng xuyên suốt trục của nền kinh tế và đặc biệt nó mang các yêu cầu đầu vào phù hợp với tố chất thông minh, cần cù của người Việt Nam, không đòi hỏi quá nhiều về vốn và có tiềm năng mang doanh thu cao 20. Vai trò của ngành ngang bằng với vai trò của ngành giao thông vận tải trong nền kinh tế hiện đại, là một trong những động lực thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Mục tiêu của CP trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành CNpPM là phải tạo ra một môi trường có điều kiện để mà các DN có thể nâng cấp lợi thế cạnh tranh của mình bằng cách tiếp cận công nghệ, phương pháp tinh vi và xâm nhập vào những phân đoạn cao cấp hơn trong dây chuyền sản xuất thế giới. Một số chính sách nổi bật mà các Nhà nước ngày nay, trong đó có Việt Nam thường thực hiện nhằm cải tiến sức cạnh tranh của một ngành là: phá giá, phi điều tiết, tư nhân hóa, nới lỏng tiêu chuẩn sản phẩm và môi trường, thúc đẩy hợp tác liên công ty, khuyến khích sát nhập, cải cách thuế, phát triển vùng, đàm phán hạn chế hay thỏa thuận tiếp thị có trật tự, cải thiện hệ thống giáo dục, mở rộng đầu tư của CP vào hoạt 20 Xem phụ lục bảng 2.1: Những con số ước tính của ngành CNTT Việt Nam giai đoạn 2008-2015. 17 động R&D, các hình thức mua hàng của CP, các chính sách hỗ trợ DN, các chính sách quốc phòng an ninh. Hình thành DN mới là một trong những yếu tố không thể bỏ qua trong việc nâng cấp lợi thế cạnh tranh của một ngành công nghiệp.
Vì những DN mới sẽ sử dụng công nghệ mới hay đi vào một công đoạn, một phân khúc mới do đó nó góp phần làm giảm những nguy cơ làm suy yếu tiến bộ kinh tế và tạo ra một phân khúc khác của thị trường. Ngược lại, nếu DN mới sút kém, triển vọng tìm khách hàng mới và tạo ra công ăn việc làm là hoàn toàn mù mịt. Do đó, CP phải có những tác động gián tiếp đến việc thành lập DN hướng đến mục tiêu đã định trước. 21 Chính sách hỗ trợ ngành báo hiệu sự tin tưởng của CP vào tương lai của ngành.
Chính sách hỗ trợ ngành không phải là một chính sách riêng lẻ mà thường bao gồm nhóm chính sách gồm trợ cấp, bảo hộ chọn lọc và tập trung vốn. Chính sách hỗ trợ ngành công khai đòi hỏi sự lựa chọn các ngành có sự hiện diện hoặc có thể phát triển những nhân tố quyết định lợi thế cạnh tranh quốc gia.