Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam hiện giữ vị trí thứ năm về diện tích và thứ tám về sản lượng chè trên toàn cầu trong tổng số 39 quốc gia canh tác và chế biến chè. Trong bức tranh chung đó, tỉnh Yên Bái đóng vai trò là một trong những trung tâm nguyên liệu trọng điểm của khu vực trung du và miền núi phía Bắc với quy mô diện tích chè kinh doanh đạt gần 13.000 ha (chiếm vị trí thứ năm cả nước). Hàng năm, sản lượng búp tươi toàn tỉnh thu hái đạt trên 80.000 tấn (đứng thứ tư cả nước), đóng góp doanh thu trực tiếp cho người dân địa phương trên 400 tỷ đồng và tạo việc làm cho hàng ngàn lao động tại hơn 65 doanh nghiệp, cơ sở chế biến có công suất từ 8 đến 40 tấn búp tươi/ngày.

Mặc dù sở hữu những lợi thế đặc thù về địa hình á nhiệt đới và nguồn gen quý hiếm như vùng chè Shan tuyết cổ thụ Suối Giàng hàng trăm năm tuổi – một trong sáu giống chè khởi thủy của thế giới, ngành chè Yên Bái vẫn đối mặt với bài toán nan giải: sản lượng lớn nhưng giá trị thu được còn rất khiêm tốn. Tình trạng xuất khẩu chủ yếu ở dạng sơ chế thô, chất lượng không đồng đều, thiếu sản phẩm chế biến sâu và thương hiệu mờ nhạt đã làm suy giảm nghiêm trọng năng lực cạnh tranh của địa phương.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế "Nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành chè tỉnh Yên Bái" do học viên Nguyễn Thanh Bình thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Quang Vinh tại Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội nhằm giải quyết vấn đề cốt lõi: Làm rõ nguyên nhân dẫn đến thực trạng kém cạnh tranh và đề xuất hệ thống giải pháp khả thi trong giai đoạn phát triển mới. Nghiên cứu giới hạn phạm vi không gian tại tỉnh Yên Bái kết hợp đối sánh thực tiễn tại hai tỉnh có thế mạnh tương đồng là Phú Thọ và Thái Nguyên, với trục thời gian dữ liệu trọng tâm từ năm 2012 đến năm 2015. Kết quả của đề tài mang lại giá trị thực tiễn to lớn trong việc định hình lại cơ chế điều hành vĩ mô, tối ưu hóa chuỗi giá trị và thúc đẩy mức tăng trưởng thu nhập bền vững cho nông hộ vùng cao.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết cạnh tranh hiện đại, trọng tâm là mô hình năm yếu tố cạnh tranh của Michael Porter (1990) gồm: quyền lực đàm phán của nhà cung ứng nguyên liệu, sức mạnh ép giá của khách hàng và nhà phân phối, nguy cơ từ đối thủ tiềm năng gia nhập, sức ép từ sản phẩm thay thế và mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nội bộ ngành. Bên cạnh đó, luận văn tích hợp lý thuyết lợi thế cạnh tranh động, nhấn mạnh hai chiến lược then chốt: chiến lược tối ưu hóa chi phí sản xuất và chiến lược khác biệt hóa sản phẩm nông nghiệp.

Luận văn chuẩn hóa hệ thống 4 khái niệm nền tảng:

  • Cạnh tranh: Sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế nhằm giành giật điều kiện sản xuất, tiêu thụ và tối đa hóa lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường.
  • Năng lực cạnh tranh ngành chè cấp tỉnh: Khả năng duy trì và nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, mở rộng thị phần và thu hút các nguồn lực kinh tế nhằm tạo giá trị gia tăng bền vững cho địa phương.
  • Chuỗi giá trị ngành chè: Chuỗi mắt xích liên hoàn từ khâu chọn giống, thâm canh, thu hái, chế biến công nghệ cao đến phân phối, xây dựng thương hiệu và tiếp cận người tiêu dùng cuối cùng.
  • Khung năng lực cạnh tranh theo chuẩn OECD và WEF: Đánh giá sức cạnh tranh dựa trên năng suất các yếu tố tổng hợp, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và mức độ hoàn thiện của thể chế chính sách địa phương.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để xem xét các mối quan hệ tác động qua lại giữa cơ chế quản lý nhà nước, hoạt động của doanh nghiệp và đời sống nông hộ trong tiến trình phát triển kinh tế thị trường.

Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo thường niên giai đoạn 2012-2015 của UBND tỉnh Yên Bái, Sở Công Thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Thống kê tỉnh Yên Bái (quản lý trên 585.088,51 ha đất nông nghiệp toàn tỉnh), cùng các đề án quy hoạch ngành chè của tỉnh Thái Nguyên và Phú Thọ.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp phỏng vấn chuyên gia trực tiếp với cỡ mẫu gồm 35 cá nhân am hiểu sâu sắc về ngành hàng. Cụ thể, mẫu bao gồm 15 cán bộ quản lý chuyên trách tại các sở ban ngành cấp tỉnh và huyện, 12 giám đốc/chủ cơ sở chế biến chè lớn, cùng 8 chuyên gia nông nghiệp và kỹ thuật chế biến. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) được lựa chọn nhằm bảo đảm tính đại diện chuyên môn cao.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Việc kết hợp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp trên phần mềm Microsoft Excel và xử lý dữ liệu định tính từ băng ghi âm phỏng vấn sâu giúp đối chiếu chính xác giữa các chỉ tiêu định lượng (diện tích, sản lượng, doanh thu) với những nút thắt thể chế, chính sách mà số liệu thuần túy không thể hiện hết.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, năng suất và hiệu quả kinh tế trên diện tích đất canh tác còn thấp. Mặc dù sở hữu diện tích gần 13.000 ha với sản lượng trên 80.000 tấn búp tươi mỗi năm, doanh thu toàn ngành chè Yên Bái chỉ đạt hơn 400 tỷ đồng, tương đương mức giá trị sản xuất bình quân chỉ xấp xỉ 31 triệu đồng/ha. Con số này thấp hơn đáng kể so với mức giá trị sản xuất 85 triệu đồng/ha của tỉnh Thái Nguyên cùng kỳ.

Thứ hai, cơ cấu chủng loại sản phẩm mất cân đối và công nghệ chế biến lạc hậu. Hơn 85% sản lượng chè Yên Bái xuất xưởng ở dạng bán thành phẩm sơ chế hoặc chè đen chất lượng trung bình thấp (công nghệ OTC truyền thống), trong khi các dòng sản phẩm tinh chế có giá trị gia tăng cao chỉ chiếm dưới 15%. Hệ thống máy móc tại phần lớn trong số hơn 65 doanh nghiệp và cơ sở chế biến đã cũ kỹ, tỷ lệ hao hụt nguyên liệu cao và thiếu dây chuyền kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm tự động.

Thứ ba, chuỗi liên kết giữa nông dân trồng chè và các nhà máy chế biến bị đứt gãy nghiêm trọng. Hiện tượng tranh mua, tranh bán nguyên liệu diễn ra phổ biến vào chính vụ khiến quy trình thu hái búp tươi không bảo đảm quy cách kỹ thuật (tỷ lệ búp 1 tôm 2-3 lá chỉ chiếm khoảng 40 - 50%), tình trạng tồn dư thuốc bảo vệ thực vật chưa được kiểm soát triệt để từ gốc.

Thứ tư, thương hiệu sản phẩm mờ nhạt và năng lực xúc tiến thương mại yếu kém. Toàn tỉnh có vùng chè Shan tuyết Suối Giàng cổ thụ hàng trăm năm tuổi nhưng tỷ trọng khai thác chỉ chiếm khoảng 2 - 3% tổng sản lượng, phần lớn đóng gói thủ công với bao bì đơn điệu, chưa xây dựng được nhận diện nhãn hiệu đồng bộ để thâm nhập hệ thống siêu thị hiện đại và các thị trường khó tính như Nhật Bản hay châu Âu.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản dẫn đến năng lực cạnh tranh hạn chế của ngành chè Yên Bái nằm ở sự thiếu đồng bộ trong khâu chỉ đạo và ban hành chính sách vĩ mô. Khác với Thái Nguyên khi ban hành Quyết định 2214/QĐ-UBND hướng tới 100% diện tích vùng tập trung đạt chuẩn VietGAP, hay Phú Thọ với quy hoạch chi tiết 15.500 ha chè (trong đó 2.500 ha chè an toàn giai đoạn 2015 và hướng tới 6.500 ha năm 2020), Yên Bái thiếu các cơ chế hỗ trợ trực tiếp cho chuyển đổi giống và chuẩn hóa quy trình thâm canh an toàn.

Về mặt trình bày dữ liệu học thuật, sự chênh lệch này có thể được minh họa trực quan thông qua biểu đồ cột so sánh giá trị sản xuất trên một hecta giữa Yên Bái (31 triệu đồng/ha), Phú Thọ (khoảng 55 triệu đồng/ha) và Thái Nguyên (85 triệu đồng/ha). Song song đó, bảng ma trận SWOT tổng hợp sẽ phân định rõ điểm mạnh về diện tích và thổ nhưỡng đối lập hoàn toàn với điểm yếu về xúc tiến thương mại và vốn đầu tư công nghệ.

Ý nghĩa kinh tế - xã hội: Việc giải quyết bài toán nâng cao năng lực cạnh tranh ngành chè không chỉ đơn thuần là bài toán kinh doanh của doanh nghiệp, mà còn là công cụ trực tiếp nâng cao thu nhập cho 773.854 người dân toàn tỉnh, đặc biệt là cộng đồng các dân tộc Tày, Dao, Mông tại các huyện Văn Chấn, Trấn Yên và khu vực vùng cao phía Tây Yên Bái.

Đề xuất và khuyến nghị

Căn cứ vào kết quả phân tích thực trạng và bài học kinh nghiệm, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành chè tỉnh Yên Bái:

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế chính sách và quản lý nhà nước: UBND tỉnh Yên Bái cần ban hành nghị quyết chuyên đề về phát triển ngành chè bền vững giai đoạn 2016-2020. Thiết lập gói tín dụng ưu đãi hỗ trợ 100% lãi suất trong 2 năm đầu cho các doanh nghiệp đầu tư đổi mới dây chuyền công nghệ đạt chuẩn ISO 22000 hoặc HACCP, đồng thời siết chặt cấp phép hoạt động đối với các cơ sở chế biến thủ công không có vùng nguyên liệu cố định.

Thứ hai, tái quy hoạch vùng nguyên liệu và chuẩn hóa bộ giống: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì rà soát ổn định 13.000 ha chè toàn tỉnh, đẩy mạnh thay thế 30 - 35% diện tích chè cằn cỗi bằng các giống chè mới năng suất, chất lượng cao như LDP1, LDP2, PH11, Kim Tuyên. Đặt mục tiêu cụ thể đến năm 2020 xây dựng tối thiểu 3.000 ha diện tích chè sản xuất an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP và GlobalGAP tập trung tại huyện Văn Chấn và Trấn Yên.

Thứ ba, sắp xếp lại mạng lưới chế biến và củng cố liên kết chuỗi: Sở Công Thương phối hợp với hơn 65 doanh nghiệp chè trên địa bàn chuẩn hóa mô hình hợp đồng kinh tế bao tiêu dài hạn với các hợp tác xã và hộ nông dân. Khuyến khích các doanh nghiệp lớn liên doanh, liên kết mở rộng tỷ lệ sản phẩm chè chế biến sâu (chè xanh chất lượng cao, chè túi lọc, bột matcha) lên mức tối thiểu 35% vào năm 2020.

Thứ tư, đẩy mạnh xây dựng thương hiệu và xúc tiến thương mại: Trung tâm Xúc tiến thương mại tỉnh chủ trì triển khai chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm chè Shan tuyết Suối Giàng, thiết kế lại hệ thống bao bì nhận diện chuyên nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp tham gia tối thiểu 4 - 6 hội chợ triển lãm nông sản quốc tế mỗi năm tại các thị trường trọng điểm như Đài Loan, Trung Quốc, Pakistan và Trung Đông.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Nhóm cán bộ hoạch định chính sách và quản lý nhà nước: Lãnh đạo UBND tỉnh, cán bộ Sở Công Thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Yên Bái và các địa phương vùng trung du, miền núi phía Bắc có thể sử dụng các kết luận và số liệu thống kê làm căn cứ xây dựng đề án phát triển cây công nghiệp dài ngày và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp.

Nhóm doanh nghiệp và hợp tác xã sản xuất kinh doanh chè: Giám đốc và cán bộ quản trị tại hơn 65 cơ sở chế biến có thể áp dụng mô hình phân tích năm áp lực cạnh tranh để đánh giá lại chuỗi cung ứng nội bộ, tái cấu trúc chi phí vận hành, đàm phán hợp đồng nguyên liệu và lựa chọn công nghệ chế biến phù hợp.

Nhóm nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học: Giảng viên và học viên các chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế nông nghiệp, Quản trị kinh doanh có thể khai thác khung lý thuyết về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và phương pháp luận khảo sát thực chứng làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu tương đương.

Nhóm các tổ chức xúc tiến thương mại và hiệp hội ngành hàng: Hiệp hội Chè Việt Nam (VITAS) và các tổ chức phát triển nông thôn có thể sử dụng các phát hiện về chuỗi giá trị và thị trường xuất khẩu để xây dựng chương trình hỗ trợ sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số và quảng bá thương hiệu nông sản Việt Nam ra thế giới.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính khiến chè Yên Bái có sản lượng đứng thứ tư cả nước nhưng giá trị kinh tế thu về lại thấp là gì? Nguyên nhân cốt lõi là do hơn 85% sản lượng xuất khẩu ở dạng sơ chế thô hoặc chè đen chất lượng trung bình, thiếu hụt các sản phẩm chế biến sâu có giá trị gia tăng cao. Thêm vào đó, việc thu hái búp tươi không đạt chuẩn kỹ thuật và công nghệ chế biến tại nhiều cơ sở còn lạc hậu làm giảm sút giá bán thương phẩm.

Luận văn đã sử dụng khung lý thuyết nào để đo lường năng lực cạnh tranh của ngành chè? Đề tài vận dụng mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter kết hợp cùng lý thuyết lợi thế cạnh tranh động và khung tiêu chí đánh giá của OECD. Khung lý thuyết này giúp lượng hóa toàn diện từ năng suất lao động, chi phí sản xuất, chuỗi liên kết đến các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế vĩ mô của chính quyền tỉnh.

Sự khác biệt rõ nét nhất giữa ngành chè tỉnh Yên Bái và tỉnh Thái Nguyên là gì? Thái Nguyên định vị thành công phân khúc chè xanh đặc sản với 100% diện tích vùng tập trung sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, đạt giá trị sản xuất 85 triệu đồng/ha. Trong khi đó, Yên Bái trong giai đoạn nghiên cứu vẫn phát triển diện tích phân tán gần 13.000 ha với giá trị chỉ đạt khoảng 31 triệu đồng/ha do chậm quy hoạch vùng an toàn.

Lợi thế cạnh tranh đặc thù của giống chè Shan tuyết Suối Giàng được đánh giá như thế nào? Chè Shan tuyết Suối Giàng là nguồn gen cổ thụ quý hiếm, một trong sáu giống chè khởi thủy của thế giới sinh trưởng ở độ cao trên 600 - 900m. Đây là lợi thế khác biệt hóa tuyệt đối giúp Yên Bái xây dựng dòng sản phẩm chè hữu cơ cao cấp, nâng tầm thương hiệu và kết hợp phát triển du lịch sinh thái văn hóa.

Doanh nghiệp chế biến chè tại Yên Bái cần ưu tiên giải pháp nào để thâm nhập thị trường xuất khẩu cao cấp? Doanh nghiệp cần thiết lập hợp đồng liên kết chặt chẽ với người trồng chè nhằm kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật theo tiêu chuẩn VietGAP ngay tại nương chè. Đồng thời, đơn vị phải chủ động đầu tư nâng cấp công nghệ chế biến đạt chuẩn quốc tế ISO 22000 hoặc HACCP để vượt qua các rào cản kỹ thuật khắt khe.

Kết luận

  • Ngành chè Yên Bái sở hữu tiềm năng vượt trội với gần 13.000 ha diện tích canh tác và sản lượng trên 80.000 tấn búp tươi/năm nhưng cần khắc phục ngay tình trạng xuất khẩu thô giá trị thấp.
  • Mô hình liên kết chuỗi giá trị chặt chẽ giữa hơn 65 doanh nghiệp chế biến và nông hộ trồng chè là chìa khóa quyết định chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm.
  • Chuyển dịch cơ cấu sản phẩm theo hướng nâng cao tỷ trọng chế biến sâu và khai thác triệt để giá trị độc bản của thương hiệu chè Shan tuyết cổ thụ Suối Giàng.
  • Đặt mục tiêu cụ thể đến năm 2020 chuyển đổi 30 - 35% diện tích sang giống chè mới và phát triển tối thiểu 3.000 ha chè an toàn đạt chuẩn VietGAP/GlobalGAP.
  • Chính quyền tỉnh Yên Bái cần ban hành nghị quyết chuyên đề và chính sách hỗ trợ tài chính đồng bộ để tạo bước đột phá cho chỉ số năng lực cạnh tranh toàn ngành.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã cung cấp bức tranh toàn cảnh, chân thực về thực trạng ngành chè Yên Bái giai đoạn 2012-2015 trên cơ sở khoa học vững chắc, đồng thời chuyển giao hệ thống giải pháp mang tính ứng dụng cao cho các cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp địa phương. Để hiện thực hóa mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh, các cấp quản lý và hiệp hội doanh nghiệp cần nhanh chóng triển khai lộ trình rà soát quy hoạch và tiêu chuẩn hóa chuỗi giá trị ngay từ hôm nay.