Chương 1: Tổng quan về hoạt động kinh doanh bảo hiểm và năng lực cạnh tranh của công ty bảo hiểm trong bối cảnh hội nhập kinh tế. Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty bảo hiểm ngân hàng đầu tƣ và phát triển trong bối cảnh hội nhập kinh tế. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty bảo hiểm ngân hàng đầu tƣ và phát triển trong bối cảnh hội nhập kinh tế. Em xin gửi lời cảm ơn và sự biết ơn sâu sắc tới cô giáo Ths.
Phạm Thanh Hà, ngƣời đã tận tình hƣớng dẫn em trong quá trình viết Khóa luận này. Do trình độ của bản thân còn hạn chế và do hạn chế trong việc thu thập, thống kê số liệu nên Khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận đƣợc sự đóng góp của các Thầy, các Cô, bạn bè và những ngƣời quan tâm. Phạm Huyền Trang 2 Lớp A13 – K42D LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khoá luận tốt nghiệp CHƢƠNG I TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ. Khái quát về hoạt động kinh doanh bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm 1.
Khái quát về hoạt động kinh doanh bảo hiểm Bảo hiểm có nguồn gốc từ rất xa xƣa trong lịch sử nền văn minh nhân loại; vào cuối thế kỷ XV khi Châu Âu thực hiện những chuyến đi khai phá tới Châu Á và Châu Mỹ, ý tƣởng về rủi ro và thành lập một quỹ chung đã xuất hiện cùng một lúc. Đây chính là những dấu hiệu đầu tiên đánh dấu sự ra đời của hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Cùng với sự lớn mạnh của thƣơng mại toàn cầu, hoạt động kinh doanh bảo hiểm cũng ngày một phát triển đa dạng và phong phú, trở thành hoạt động kinh doanh không thể thiếu của bất kì nền kinh tế nào. Theo Luật Kinh Doanh Bảo hiểm năm 2000 thì “Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của ngƣời đƣợc bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho ngƣời thụ hƣởng hoặc bồi thƣờng cho ngƣời đƣợc bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”.
Đặc điểm của hoạt động kinh doanh bảo hiểm Đối tượng kinh doanh đa dạng Đối tƣợng của hoạt động kinh doanh bảo hiểm là con ngƣời, tài sản và trách nhiệm dân sự, đối với mỗi loại đối tƣợng này lại có rất nhiều loại sản phẩm bảo hiểm khác nhau nhƣ BH tài sản và BH thiệt hại, BH hàng hoá vận chuyển, BH hàng không, BH xe cơ giới, BH trách nhiệm dân sự của chủ tàu… Hoạt động kinh doanh bảo hiểm có vốn pháp định lớn Theo Điều 4 nghị định số 46/2007/NĐ-CP thì mức vốn pháp định của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ là 600 tỷ đồng, kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ là 300 tỷ đồng và DN môi giới BH là 4 tỷ đồng. Ở Việt Nam chỉ một số ngành Phạm Huyền Trang 3 Lớp A13 – K42D LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khoá luận tốt nghiệp nghề có liên quan tới tài chính nhƣ chứng khoán, bảo hiểm, kinh doanh vàng, kinh doanh tiền tệ mới yêu cầu có vốn pháp định. Qui định về vốn pháp định của DN kinh doanh BH nhƣ trên chỉ đứng sau qui định về vốn pháp định của ngân hàng. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn luôn phải có dự phòng nghiệp vụ BH Theo điều 96 Luật Kinh doanh BH thì dự phòng nghiệp vụ phải đƣợc trích lập riêng cho từng nghiệp vụ BH và phải tƣơng ứng với phần trách nhiệm của DNBH.
Kinh doanh BH là kinh doanh rủi ro bởi vậy luôn đòi hỏi phải có dự phòng nghiệp vụ BH. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn luôn gắn kết với hoạt động đầu tư Hoạt động đầu tƣ là hoạt động không thể thiếu đƣợc của mỗi DNBH. DNBH sẽ chỉ phải chi trả tiền bồi thƣờng cho ngƣời đƣợc BH khi hợp đồng BH đến hạn (BH nhân thọ) hoặc khi tổn thất xảy ra với đối tƣợng đƣợc BH (BH phi nhân thọ) nên luôn có một khoản tiền nhàn rỗi lớn trong mỗi DNBH, do đó để tăng hiệu quả từ hoạt động kinh doanh các DNBH thƣờng sử dụng nguồn vốn này để đầu tƣ trở lại nền kinh tế, vừa góp phần tăng thu nhập cho DNBH vừa bổ sung vốn cho nền kinh tế. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm, vừa hợp tác vừa cạnh tranh Giữa các DNBH luôn có sự hợp tác và cạnh tranh gay gắt với nhau.
Các DNBH áp dụng đủ các phƣơng thức để cạnh tranh giành hợp đồng, khách hàng nhƣng đồng thời lại hợp tác để thực hiện đồng bảo hiểm hoặc tái bảo hiểm. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm phải tuân thủ quy định của Luật Kinh Doanh bảo hiểm, các quy định khác của pháp luật có liên quan và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia. Kinh doanh BH là một lĩnh vực tài chính nhạy cảm, đƣợc nhà nƣớc quản lý khá chặt chẽ, tuy nhiên khi chúng ta chính thức tham gia sân chơi chung, hội nhập vào nền kinh tế thế giới thì chúng ta cũng sẽ phải tuân thủ luật chơi chung, có nghĩa là ngoài việc chịu sự điều chỉnh của hệ thống luật Việt Nam mà trực tiếp là Luật Kinh doanh bảo hiểm, hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam còn chịu sự điều chỉnh của luật pháp và các điều ƣớc quốc tế liên quan mà Việt Nam đã tham gia. Phạm Huyền Trang 4 Lớp A13 – K42D LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khoá luận tốt nghiệp b.
Những nguyên tắc cơ bản của hoạt động kinh doanh bảo hiểm Số đông bù số ít Đây là một nguyên tắc bất di bất dịch trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Nó thể hiện việc một hoặc một số ngƣời sẽ đƣợc bù đắp rủi ro bằng số tiền huy động đƣợc từ rất nhiều ngƣời có khả năng gặp rủi ro nhƣ vậy. Hay nói cách khác công ty bảo hiểm đã thực hiện việc bù trừ rủi ro theo quy luật số lớn thông qua việc huy động đủ số phí cần thiết để giải quyết chi bồi thƣờng cho các tổn thất có thể xảy ra trong cộng đồng những ngƣời tham gia bảo hiểm. Theo nguyên tắc này, càng nhiều ngƣời tham gia bảo hiểm thì quỹ bảo hiểm tích tụ càng lớn, việc chi trả càng trở nên dễ dàng hơn, rủi ro đƣợc san sẻ cho nhiều ngƣời hơn.
Thông thƣờng, một sản phẩm bảo hiểm chỉ có thể đƣợc triển khai khi có nhiều nhu cầu về cùng một loại bảo đảm đó. Lựa chọn rủi ro Nguyên tắc lựa chọn rủi ro là một nguyên tắc không thể thiếu đƣợc trong các hoạt động kinh doanh BH. Theo nguyên tắc này, các rủi ro đã xảy ra, chắc chắn hoặc gần nhƣ chắc chắn sẽ xảy ra thì bị từ chối BH: hao mòn vật chất tự nhiên, hao hụt thƣơng mại tự nhiên, xe vi phạm nghiêm trọng luật giao thông, cố ý tự tử. Nói cách khác, những rủi ro có thể đƣợc BH phải là những rủi ro bất ngờ, không lƣờng trƣớc đƣợc.
Nguyên tắc lựa chọn rủi ro nhằm tránh cho ngƣời BH phải bồi thƣờng cho những tổn thất thấy trƣớc mà với nhiều trƣờng hợp nhƣ vậy chắc chắn sẽ dẫn đến phá sản, đồng thời cũng giúp cho các công ty BH có thể tính đƣợc các mức phí chính xác, lập nên đƣợc một quỹ BH đầy đủ để đảm bảo cho công tác bồi thƣờng. Phân tán rủi ro Một kinh nghiệm trong hoạt động của các nhà BHTM là tránh nhận những rủi ro quá lớn, vƣợt quá khả năng tài chính của công ty. Chính vì vậy, phải phân tán bớt các rủi ro đã nhận là nguyên tắc quan trọng giúp cho các nhà BH vừa có thể bảo đảm nhận các rủi ro lớn, tránh đƣợc điều tối kỵ là từ chối BH, vừa vẫn bảo đảm đƣợc hoạt động kinh doanh. Để thực hiện đƣợc nguyên tắc phân tán rủi ro, các nhà Phạm Huyền Trang 5 Lớp A13 – K42D LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khoá luận tốt nghiệp BH đã sử dụng hai phƣơng thức đồng BH và tái BH.
Nếu trong đồng BH, nhiều nhà BH cùng nhận bảo đảm cho một rủi ro lớn thì tái BH lại là phƣơng thức trong đó, một nhà BH nhận bảo đảm cho một rủi ro lớn, sau đó nhƣợng bớt một phần rủi ro cho một hoặc nhiều nhà BH khác. Trung thực tuyệt đối Nguyên tắc này đƣợc thể hiện ngay từ khi ngƣời BH nghiên cứu để soạn thảo một hợp đồng BH đến khi phát hành, khai thác BH và thực hiện giao dịch kinh doanh với khách hàng (ngƣời tham gia BH). Trƣớc hết, nguyên tắc trung thực tuyệt đối đòi hỏi ngƣời BH phải có trách nhiệm cân nhắc các điều kiện, điều khoản để soạn thảo hợp đồng bảo đảm cho quyền lợi của hai bên. Ngƣời BH phải công khai tuyên bố những điều kiện, nguyên tắc, thể lệ, giá cả BH cho ngƣời đƣợc BH biết; không đƣợc nhận BH khi biết đối tƣợng BH đã đến nơi an toàn.
Ngƣợc lại nguyên tắc này cũng đặt ra một yêu cầu với ngƣời tham gia BH là phải khai báo rủi ro trung thực khi tham gia BH để giúp cho ngƣời BH xác định mức phí phù hợp với rủi ro mà họ đảm nhận. Ngƣời tham gia BH phải khai báo chính xác các chi tiết liên quan đến đối tƣợng BH; phải thông báo kịp thời những thay đổi về đối tƣợng BH, về rủi ro… mà mình biết đƣợc hoặc đáng lẽ phải biết cho ngƣời BH, không đƣợc mua BH cho đối tƣợng BH khi biết đối tƣợng đó đã bị tổn thất. Quyền lợi có thể được bảo hiểm Nguyên tắc này yêu cầu ngƣời tham gia BH phải có lợi ích tài chính bị tổn thất nếu đối tƣợng đƣợc BH gặp rủi ro. Nói cách khác, ngƣời tham gia BH phải có một số quan hệ với đối tƣợng đƣợc BH và đƣợc pháp luật công nhận.
Mối quan hệ có thể biểu hiện qua quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản, quyền và nghĩa vụ nuôi dƣỡng, cấp dƣỡng đối với đối tƣợng đƣợc BH. Trong trƣờng hợp quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản đƣợc BH thuộc hai chủ thể khác nhau thì cả hai chủ thể này đều có quyền lợi BH. Nguyên tắc quyền lợi có thể đƣợc BH nhằm loại bỏ khả năng BH cho tài sản của ngƣời khác, hoặc cố tình gây thiệt hại hoặc tổn thất để thu lợi từ một đơn BH. Phạm Huyền Trang 6 Lớp A13 – K42D LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.