phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề chung về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng TMCP Đại Tín Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng TMCP Đại Tín CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái niệm về ngân hàng thƣơng mại Ngân hàng thƣơng mại (NHTM) là tổ chức kinh doanh tiền tệ tín dụng có vị trí quan trọng nhất trong nền kinh tế thị trƣờng ở các nƣớc. Có nhiều khái niệm khác nhau về ngân hàng thƣơng mại: Theo Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990 của Việt Nam: Ngân hàng thƣơng mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà nghiệp vụ thƣờng xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, chiết khấu và làm phƣơng tiện thanh toán. Theo luật các tổ chức tín dụng Việt Nam có hiệu lực vào tháng 10 năm 1998: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”.[Khoản 2 Điều 20] Nghị định của Chính phủ số 49/2001NĐ-CP ngày 12/09/2000 định nghĩa: “Ngân hàng thƣơng mại là ngân hàng đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của nhà nƣớc”[Khoản 2 Điều 1] Từ nhiều định nghĩa khác nhau về ngân hàng thƣơng mại, có thể hiểu một cách ngắn gọn lại là: Ngân hàng thƣơng mại là một định chế tài chính kinh doanh tiền tệ thông qua các hình thức cơ bản là nhận tiền gửi của khách hàng nhằm đầu tƣ hoặc cho vay lại, ngoài ra ngân hàng thƣơng mại cũng cung cấp nhiều loại hình dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng nhƣ: chuyển tiền, bảo lãnh, … 1.1 Lịch sử ra đời Ngân hàng bắt nguồn từ một công việc rất đơn giản là giữ những đồ vật quý cho những ngƣời chủ sở hữu, tránh gây mất mát. Đổi lại, ngƣời chủ sở hữu phải trả cho ngƣời giữ một khoản tiền công.
Khi công việc này mang lại nhiều lợi ích cho những ngƣời gửi, các đồ vật cần gửi ngày càng đa dạng hơn, và đại diện cho các vật có giá trị nhƣ vậy là tiền, dần dần, ngân hàng là nơi giữ tiền cho những ngƣời giữ tiền. Khi xã hội phát triển, thƣơng mại phát triển, nhu cầu về tiền ngày càng lớn, tức là phát sinh nhu cầu vay tiền ngày càng lớn trong xã hội. Khi nắm trong tay một lƣợng tiền, những ngƣời giữ tiền nảy ra nhu cầu cho vay số tiền đó, vì lƣợng tiền trong tay họ không bao giờ bị đòi cùng một thời gian, tức là có độ chênh lệch lƣợng tiền cần gửi là lƣợng tiền cần rút của ngƣời chủ sở hữu. Từ đó phát sinh nghiệp vụ đầu tiên nhƣng cơ bản nhất của ngân hàng nói chung, đó là huy động vốn và cho vay vốn.2 Quá trình phát triển Từ thế kỷ XV đến nay, ngành ngân hàng đã trải qua những bƣớc tiến dài và góp nhiều phát minh vĩ đại vào lịch sử phát triển của loài ngƣời.
Có thể chia thành 3 giai đoạn phát triển nhƣ sau: Giai đoạn 1: Từ thế kỷ XV đến cuối XVIII Hoạt động của giai đoạn này có những đặc trƣng sau: Các ngân hàng hoạt động độc lập chƣa tạo một hệ thống chịu sự ràng buộc và phụ thuộc lẫn nhau Chức năng hoạt động của mỗi ngân hàng giống nhau, gồm nhận ký thác của khách hàng, chiết khấu và cho vay, phát hành giấy bạc vào lƣu thông, thực hiện các dịch vụ khác nhƣ chuyển tiển và đổi tiền… Giai đoạn 2: Từ cuối thế kỷ XVIII đến XX Mọi ngân hàng đều phát hành giấy bạc ngân hàng làm cản trở quá trình phát triển của nền kinh tế, vì vậy từ đầu thế kỷ XIX, nghiệp vụ này đƣợc giao cho một số ngân hàng lớn và về sau tập trung vào một ngân hàng duy nhất gọi là ngân hàng phát hành, các ngân hàng còn lại chuyển thành ngân hàng thƣơng mại. Giai đoạn 3: Từ đầu thế kỷ XX đến nay Ngân hàng phát hành vẫn thuộc sở hữu tƣ nhân không cho nhà nƣớc can thiệp thƣờng xuyên vào các hoạt động kinh tế thông qua các tác động của nền kinh tế, các nƣớc đã quốc hữu hoá hàng loạt các ngân hàng phát hành từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929 đến năm 1933. Khái niệm ngân hàng trung ƣơng đã thay thế ngân hàng phát hành với chức năng rộng hơn ngoài nghiệp vụ phát hành và quản lý nhà nƣớc về tiền tệ, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển tăng trƣởng kinh tế.3 Hoạt động của ngân hàng thương mại Chƣơng III của Luật tổ chức tín dụng nêu ra các hoạt động của tổ chức tín dụng, trong đó chủ yếu là ngân hàng thƣơng mại, bao gồm: 1.1 Nghiệp vụ tài sản nợ và vốn của ngân hàng Đây là nghiệp vụ khởi đầu tạo điều kiện cho sự phát triển ngân hàng về sau, khi NHTM đã hình thành và ổn định, các nghiệp vụ của nó đƣợc xen kẽ lẫn nhau trong suốt quá trình hoạt động. - Nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá: các NHTM thƣờng sử dụng nghiệp vụ này để thu hút các khoản vốn có tính dài hạn nhằm đảm bảo khả năng đầu tƣ các khoản vốn dài hạn của ngân hàng vào nền kinh tế.
Ngoài ra, nghiệp vụ này còn giúp các ngân hàng thƣơng mại tăng cƣờng tính ổn định vốn trong hoạt động kinh doanh của mình. - Nghiệp vụ đi vay: Sau khi sử dụng hết vốn, nhƣng vẫn chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu vay vốn của khách hàng hoặc phải đáp ứng nhu cầu thanh toán và chi trả của khách hàng, các NHTM có thể đi vay các NHTW, các NHTM khác, vay ở thị trƣờng tiền tệ, vay các tổ chức kinh tế nƣớc ngoài,…Vốn đi vay chỉ chiếm một tỷ trọng có thể chấp nhận đƣợc trong kết cấu nguồn vốn, nhƣng nó rất cần thiết và có vị trí quan trọng để đảm bảo cho ngân hàng hoạt động kinh doanh một cách bình thƣờng. - Nghiệp vụ huy động vốn: Ngân hàng thƣơng mại đƣợc huy động vốn dƣới các hình thức sau: + Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dƣới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác + Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nƣớc. + Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của tổ chức tín dụng nƣớc ngoài.
+ Vay vốn ngắn hạn của ngân hàng Nhà nƣớc. + Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của ngân hàng Nhà nƣớc Ngoài ra các ngân hàng còn huy động vốn dƣới hình thức uỷ thác hay đại lý cho các tổ chức cá nhân. Nhờ vào uy tín và nghiệp vụ của mình, các ngân hàng thƣờng đƣợc các tổ chức hoặc cá nhân uỷ thác thực hiện thanh toán tiền hoặc giải ngân vốn, làm đại lý khác.2 Nghiệp vụ tài sản có - Nghiệp vụ ngân quỹ: Để thực hiện đƣợc các dịch vụ thanh toán giữa các doanh nghiệp thông qua ngân hàng, ngân hàng thƣơng mại đƣợc mở các tài khoản cho khách hàng trong và ngoài nƣớc. Để thực hiện thanh toán giữa các ngân hàng với nhau thông qua ngân hàng Nhà nƣớc, ngân hàng thƣơng mại phải mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng Nhà nƣớc nơi ngân hàng thƣơng mại đặt trụ sở chính và duy trì tại đó số dƣ tiền gửi dự trữ bắt buộc theo quy định.
Để đảm bảo khả năng thanh toán của mình, các Ngân hàng thƣờng phải thực hiện nghiêm chỉnh các quy định mang tính pháp luật về đảm bảo khả năng thanh toán của Ngân hàng trung ƣơng nhƣ: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc,…Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ của ngân hàng thƣơng mại bao gồm các hoạt động sau:. Cung cấp các phƣơng tiện thanh toán. Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nƣớc cho khách hàng. Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ.
Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của ngân hàng Nhà nƣớc. Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi đƣợc ngân hàng Nhà nƣớc cho phép. Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng. Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng trong nƣớc.
Tham gia hệ thống thanh toán quốc tế khi đƣợc ngân hàng Nhà nƣớc cho phép Mặc dù khoản vốn dùng cho nghiệp vụ này của Ngân hàng mang lại lợi nhuận thấp hoặc không mang lại lợi nhuận nhƣng nó lại giúp ngân hàng không bị mất khả năng thanh toán khi khách hàng gửi tiền hoặc rút tiền trƣớc hạn, cũng nhƣ đảm bảo an toàn chung về hoạt động của từng ngân hàng thƣơng mại. - Nghiệp vụ tín dụng: Ngân hàng thƣơng mại đƣợc cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dƣới các hình thức cho vay, chiết khấu thƣơng phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của ngân hàng Nhà nƣớc. Trong các hoạt động cấp tín dụng, cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất. Nghiệp vụ cho vay là nghiệp vụ mang lại lợi nhuận chính cho các ngân hàng.
Nghiệp vụ này rất đa dạng về hình thức và phức tạp về nội dung. Ngân hàng thƣơng mại đƣợc cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dƣới các hình thức sau: + Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống. + Cho vay trung hạn, dài hạn để thực hiện các dự án đầu tƣ phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống. Nghiệp vụ này mang tính rủi ro cao do chịu nhiều yếu tố tác động nhƣ: kinh tế, chính trị, điều kiện tự nhiên… Bảo lãnh: Ngân hàng thƣơng mại đƣợc bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác bằng uy tín và bằng khả năng tài chính của mình đối với ngƣời nhận bảo lãnh.
Mức bảo lãnh đối với một khách hàng và tổng mức bảo lãnh của một ngân hàng thƣơng mại không đƣợc vƣợt quá tỷ lệ so với vốn tự có của ngân hàng thƣơng mại.