CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan nghiên cứu về năng lực cạnh tranh 1. Các nghiên cứu tại Việt Nam Các nghiên cứu tại Việt Nam về NLCT trong những năm gần đây cũng được rất nhiều nhà nghiên cứu và các các học giả quan tâm. Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào hai hướng chính, đó là: (1) nghiên cứu về năng lực cạnh tranh và các giải pháp nâng cao NLCT của DN trong một ngành; (2) nghiên cứu về các yếu tố nội tại tác động đến NLCT của DN.
- Đề tài khoa học cấp Bộ của Nguyễn Như Tiến (2005) tập trung phân tích những cơ hội và thách thức đối với thị trường bảo hiểm Việt Nam, phân tích khả năng cạnh tranh của ngành dịch vụ bảo hiểm Việt Nam. Từ đó đề ra một số giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay. - Luận án tiến sỹ của Nguyễn Thành Long (2016) đã hệ thống hóa được cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh của DN và một số mô hình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của DN trong lĩnh vực du lịch. Luận án xác định 8 yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của DN du lịch Bến Tre gắn với đặc thù về điều kiện kinh tế - xã hội và điều kiện tự nhiên của địa phương.
Các yếu tố đó bao gồm: (1) Năng lực marketing; (2) Thương hiệu; (3) Năng lực tổ chức, quản lý; (4) Trách nhiệm xã hội; (5) Chất lượng sản phẩm, dịch vụ; (6) Nguồn nhân lực; (7) Cạnh tranh về giá; (8) Điều kiện môi trường điểm đến (cơ chế chính sách, người dân địa phương, môi trường tự nhiên). - Luận án tiến sỹ của Nguyễn Mạnh Hùng (2013) đã cụ thể hóa nội dung về năng lực cạnh tranh của ngành viễn thông – một ngành có tính đặc thù so với các ngành sản xuất khác. Luận án cũng chỉ ra rằng, NLCT của ngành viễn thông được phản ánh qua các tiêu chí bao gồm: (1) số thuê bao, (2) 6 doanh thu, (3) chất lượng dịch vụ cung cấp, (4) năng suất lao động. Tác giả đã vận dụng mô hình Kim cương của M.E Porter trong việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngành viễn thông gồm: (1) Cấu trúc và cạnh tranh trong ngành viễn thông, (2) cầu thị trường viễn thông, (3) đầu tư trực tiếp nước ngoài, (4) điều kiện yếu tố sản xuất, (5) các ngành có liên quan và công nghiệp hỗ trợ, (6) cơ chế và chính sách của chính phủ.
Điểm mới của luận án thể hiện ở việc cụ thể hóa các nhân tố vào ngành viễn thông - vấn đề mà các công trình nghiên cứu trước đây chưa từng đề cập tới. - Đoàn Việt Dũng (2015) trong luận án Tiến Sỹ "Lý thuyết cấu trúc cạnh tranh ngành với việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay", Đại học Kinh tế quốc dân. Tác giả đã hệ thống hóa lý luận về năng lực cạnh tranh để đưa ra quan điểm chung về cạnh tranh là quá trình kinh tế mà các chủ thể kinh tế ganh đua, tìm mọi biện pháp để chiếm lĩnh thị trường để nâng cao vị thế của mình. Bên cạnh đó, luận án sử dụng số liệu thực tế giai đoạn 2008- 2013 để làm sáng tỏ các lực lượng quyết định mức độ cạnh tranh trong ngành Ngân hàng tại Việt Nam như: mức độ cạnh tranh của các đối thủ hiện tại của các ngân hàng thương mại Việt Nam, mối đe dọa của người gia nhập thủ tiềm năng, mối đe dọa của các sản phẩm thay thế và sức mạnh của người mua.
- Hoàng Nguyên Khai (2016) trong luận án Tiến sỹ "Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương", Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả đã xây dựng các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM cụ thể như: Năng lực tài chính; Năng lực về sản phẩm dịch vụ; Trình độ công nghệ ngân hàng; Nguồn nhân lực và năng lực quản trị điều hành; Thị phần và tốc độ tăng trưởng thị phần của ngân hàng thương mại. Luận án cũng tập trung làm rõ các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của NHTM bao gồm: Chất lượng dịch vụ, Nỗ lực xúc tiến bán hàng, Công nghệ, Giá bán. - Luận án tiến sĩ của Lê Thị Hằng (2013) nói rõ: các yếu tố (1) Năng lực về tài 7 chính, (2) Năng lực sản xuất, (3) Nguồn nhân lực, (4) Marketing, (5) Hoạt động nghiên cứu và phát triển, (6) Năng lực tổ chức và quản trị công ty có ảnh hưởng đến NLCT của DN viễn thông.
Với các yếu tố bên ngoài, tác giả chia ra thành yếu tố thuộc môi trường vĩ mô (gồm: Môi trường chính trị - pháp luật, Môi trường văn hóa – xã hội, Môi trường kinh tế, Môi trường công nghệ, Môi trường tự nhiên, Môi trường quốc tế) và thuộc môi trường ngành (gồm Khách hàng, Đối thủ tiềm ẩn, Sản phẩm thay thế, Nhà cung cấp và Cạnh tranh nội bộ ngành). Sử dụng phương pháp định tính, tác giả nêu ra điểm mạnh/điểm yếu của 3 công ty viễn thông lớn theo các tiêu chí nói trên và sử dụng làm căn cứ để đưa ra giải pháp. - Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Đạt (2016) chỉ ra 9 yếu tố ảnh hưởng tới NLCT của các doanh nghiệp ngành cafe ở Đăk Lăk gồm: (1) Năng lực tài chính, (2) Năng lực quản trị, (3) Năng lực sản xuất và công nghệ, (4) Năng lực marketing, (5) Văn hóa doanh nghiệp, (6) Năng lực cạnh tranh thương hiệu, (7) Xử lý tranh chấp thương mại, (8) Thể chế chính sách và (9) Nguồn nhân lực địa phương. Qua nghiên cứu định tính kết hợp với định lượng, tác giả khẳng định 9 yếu tố trên có vai trò ảnh hưởng lớn tới NLCT của doanh nghiệp ngành cafe Đăk Lăk.
- Luận án tiến sĩ của Phạm Thu Hương (2017) nêu ra 6 yếu tố bên trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tác động đến NLCT của DN bao gồm: (1) Năng lực tổ chức quản lý DN, (2) Năng lực Marketing, (3) Năng lực tài chính, (4) Năng lực tiếp cận và đổi mới công nghệ, (5) Năng lực tổ chức dịch vụ và (6) Năng lực tạo lập các mối quan hệ. Luận án sử dụng phương pháp định lượng để kiểm định sự ảnh hưởng của các yếu tố trên tới NLCT của DN nhỏ và vừa. - Luận văn thạc sĩ của Tạ Thị Thanh Mai (2015) nghiên cứu năng lực cạnh tranh ngành dược phẩm sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Nghiên cứu đã đưa ra các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm như: chất lượng sản phẩm, thị phần của sản phẩm, giá cả của nhóm sản phẩm chủ lực trong tương quan so với các đối thủ cạnh tranh trong ngành, v.v… - Thạc sĩ Lương Thị Thu Thủy trong tác phẩm “Phát triển thị trường bảo hiểm 8 nhân thọ tại Việt Nam thời kỳ hậu WTO” đã tập trung phân tích thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam liên quan đến các nhân tố cấu thành nên thị trường: nhà cung cấp, kênh phân phối, sản phẩm, khách hàng và đề xuất các giải pháp chủ yếu phát triển thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam sau khi gia nhập WTO.
Các nghiên cứu trên thế giới - Trong bài viết “Competitiveness of Firm, Review of Theory, Frameworks and Models” của tác giả Ambastha & Momaya đăng trên tạp chí Singapore Management Review năm 2004, tác giả chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của DN gồm: (1) Nguồn lực DN (Văn hóa, tài sản, nhân lực, cấu trúc, trình độ công nghệ), (2) Quy trình (quy trình tiếp thị, quy trình quản lý, quy trình công nghệ, chiến lược của DN) và (3)Hiệu suất (giá cả, chi phí, phát triển sản phẩm mới, thị phần). Tuy nhiên nghiên cứu này chưa phân tích theo từng loại DN (vốn, quy mô, loại hình…) nên còn tồn tại nhiều hạn chế. - Nghiên cứu của Arnis Sauka (2014) về Đo lường NLCT của các công ty ở Latvia xác định được 7 yếu tố tác động đến NLCT của doanh nghiệp bao gồm: (1) Nguồn lực tài chính, (2) Năng lực tiếp cận các nguồn lực, (3) Năng lực kinh doanh so với đối thủ, (4) Năng lực làm việc của nhân viên, (5) Tác động của môi trường, (6) Sử dụng mạng lưới thông tin liên lạc, (7) Chiến lược kinh doanh. Thông qua khảo sát, tác giả đo lường tác động của các yếu tố trên đến NLCT của DN, nhưng mới chỉ thống kê và nhận xét dựa trên giá trị trung bình.
Nghiên cứu cũng không phân loại các doanh nghiệp theo ngành nghề, quy mô,. mà chỉ đề cập đến cấp công ty nói chung nên còn nhiều hạn chế. - Theo Chang và cộng sự (2007), NLCT của các cửa hàng tại Đài Loan bị chi phối bởi các yếu tố: (1) cơ sở vật chất, (2) sản phẩm, (3) chiến lược kinh doanh, (4) chất lượng dịch vu, (5) năng lực tài chính, (6) nguồn nhân lực, (7) marketing. Tuy nhiên các tác giả chưa xét các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng tới NLCT nên còn thiếu sót.
9 - Ho (2005) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa các hoạt động quản trị trong DN và NLCT. Tác giả đưa ra mô hình đo lường các hoạt động quản trị trong DN thông qua năm khía cạnh, (1) Cơ cấu hội đồng quản trị; (2) Cương vị quản lý; (3) Chiến lược lãnh đạo; (4) Sở hữu tập trung và các mối quan hệ vốn - thị trường; (5) Trách nhiệm xã hội có mối quan hệ với NLCT của DN. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy, có sự ảnh hưởng của hoạt động quản trị trong DN và NLCT, số điểm hoạt động quản trị trong DN càng cao thì đánh giá NLCT sẽ càng cao. Kết quả cũng chỉ ra rằng, mối quan hệ giữa hoạt động quản trị trong DN và NLCT sẽ cao hơn khi quản trị được đánh giá trên cơ sở toàn diện (tất cả năm thông số đặt cùng nhau) thay vì đánh giá riêng lẻ.
Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ tập trung làm rõ mối quan hệ giữa NLCT và năng lực quản trị trong DN mà không xét đến những khía cạnh khác. Do đó, vẫn còn tồn tại một khoảng trống nghiên cứu rõ ràng trong việc tìm hiểu mối quan hệ giữa quản trị của các DN ở các nước phát triển và khả năng cạnh tranh của họ trên thị trường quốc tế.