phần Mở đầu và Kết luận, luận văn đƣợc chia thành 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu vào EU Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam vào thị trƣờng EU của Tổng công ty Thƣơng mại Hà Nội Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu cho Tổng công ty Thƣơng mại Hà Nội trong thời gian tới 6 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH HÀNG NÔNG SẢN XUẤT KHẨU VÀO EU 1. Cơ sở lý luận về cạnh tranh Cạnh tranh là một khái niệm đƣợc hiểu theo nhiều cách khác nhau.Nordhaus (1989), cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trƣờng. Cạnh tranh (kinh tế) tạo ra năng suất nhằm giành lấy thị phần. Năng suất là giá trị sản lƣợng do một đơn vị lao động hoặc vốn sinh ra, nó phụ thuộc vào chất lƣợng và đặc điểm của sản phẩm (yếu tố quyết định giá của sản phẩm) (Michael Porter, 1985).
Khái niệm cạnh tranh đƣợc sử dụng cho cả phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia, phạm vi doanh nghiệp, phạm vi ngành và phạm vi sản phẩm. Trong khi đối với một doanh nghiệp mục tiêu chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh quốc gia hay quốc tế, thì đối với một quốc gia mục tiêu là nâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân. Ở phạm vi quốc gia, theo Uỷ ban cạnh tranh công nghiệp của Tổng thống Mỹ thì cạnh tranh đối với một quốc gia là mức độ mà ở đó, dƣới các điều kiện thị trƣờng tự do và công bằng, có thể sản xuất các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng đƣợc các đòi hỏi của thị trƣờng quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng đƣợc thu nhập thực tế của ngƣời dân nƣớc đó. Tại Diễn đàn kinh tế thế giới về cạnh tranh toàn cầu năm 2006 thì định nghĩa cạnh tranh đối với một quốc gia là “Khả năng của nƣớc đó đạt đƣợc những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt đựơc các tỷ lệ tăng trƣởng kinh tế cao đƣợc xác định bằng các thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tính trên đầu ngƣời theo thời gian”(World Economic Forum, 2006).
Xét theo phạm vi ngành kinh tế, cạnh tranh đƣợc chia làm 2 loại: cạnh tranh giữa các ngành và cạnh tranh trong nội bộ ngành. Để giành lợi thế trên thị trƣờng, các doanh nghiệp phải nắm vững các loại cạnh tranh này để xác định đúng đối thủ cạnh tranh, từ đó lựa chọn chính xác vũ khí cạnh tranh phù hợp với điều kiện và đặc điểm của mình. 7 z Cạnh tranh giữa các ngành là cuộc đấu tranh giữa các nhà doanh nghiệp sản xuất, mua bán hàng hoá, dịch vụ trong các ngành kinh tế khác nhau nhằm thu lợi nhuận và có tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với vốn đã bỏ ra và đầu tƣ vốn vào ngành có lợi nhất cho sự phát triển. Sự cạnh tranh giữa các ngành dẫn đến việc các doanh nghiệp luôn tìm kiếm những ngành đầu tƣ có lợi nhất nên đã chuyển vốn từ ngành ít lợi nhuận sang ngành có nhiều lợi nhuận.
Sau một thời gian nhất định, sự điều chuyển tự nhiên theo tiếng gọi của lợi nhuận này, vô hình chung hình thành lên sự phân phối vốn hợp lý giữa các ngành sản xuất, dẫn đến kết quả cuối cùng là các chủ doanh nghiệp đầu tƣ ở các ngành khác nhau với số vốn bằng nhau chỉ thu đƣợc lợi nhuận nhƣ nhau. Cạnh tranh trong nội bộ ngành là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất và tiêu thụ một loại hàng hoá hoặc dịch vụ nào đó. Cạnh tranh trong nội bộ ngành dẫn đến sự hình thành giá cả thị trƣờng đồng nhất đối với hàng hoá dịch vụ cùng loại trên cơ sở giá trị xã hội của hàng hoá dịch vụ đó. Trong cuộc cạnh tranh này, các doanh nghiệp thôn tính lẫn nhau.
Những doanh nghiệp chiến thắng sẽ mở rộng phạm vi hoạt động của mình trên thị trƣờng, những doanh nghiệp thua cuộc sẽ phải thu hẹp kinh doanh, thậm chí bị phá sản. Ở phạm vi sản phẩm, vấn đề sản phẩm bán tới tay khách hàng đƣợc coi trọng hàng đầu, bởi sản phẩm là đại diện cho thƣơng hiệu của doanh nghiệp, cho sự lớn mạnh hoặc yếu kém trong lĩnh vực cung cấp mặt hàng cùng công cụ sử dụng. Cạnh tranh về sản phẩm thƣờng đƣợc thể hiện qua các mặt: Cạnh tranh về trình độ sản phẩm: Tuỳ theo những sản phẩm khác nhau để chúng ta lựa chọn những nhóm chỉ tiêu khác nhau có tính chất quyết định trình độ của sản phẩm. Doanh nghiệp sẽ chiến thắng trong cạnh tranh nếu nhƣ lựa chọn trình độ sản phẩm phù hợp với yêu cầu của ngƣời tiêu dùng.
Cạnh tranh về chất lƣợng: Tùy theo từng sản phẩm với đặc điểm khác nhau để lựa chọn chỉ tiêu phản ánh chất lƣợng khác nhau. Nếu tạo ra nhiều lợi thế cho chỉ tiêu này thì sản phẩm càng có nhiều cơ hội giành thắng lợi cạnh tranh trên thị trƣờng. 8 z Cạnh tranh về bao bì: Cùng với việc thiết kế bao bì cho phù hợp, doanh nghiệp còn phải lựa chọn cơ cấu sản phẩm phù hợp, lựa chọn cơ cấu hàng hóa và cơ cấu chủng loại hợp lý. Cạnh tranh về nhãn mác, uy tín sản phẩm: Doanh nghiệp sử dụng công cụ này để đánh trực tiếp vào trực giác của ngƣời tiêu dùng.
Cạnh tranh do khai thác hợp lý chu kỳ sống của sản phẩm: Sử dụng biện pháp này, doanh nghiệp cần phải có những quyết định sáng suốt để đƣa ra một sản phẩm mới hoặc dừng việc cung cấp một sản phẩm đã lỗi thời. Từ những định nghĩa và các cách hiểu không giống nhau trên có thể rút ra các điểm hội tụ chung sau đây: “Cạnh tranh là sự tranh đua giữa những cá nhân, tập thể, đơn vị kinh tế có chức năng như nhau thông qua các hành động, nỗ lực và các biện pháp để giành phần thắng trong cuộc đua, để thỏa mãn các mục tiêu của mình. Các mục tiêu này có thể là thị phần, lợi nhuận, hiệu quả, an toàn và danh tiếng”. Tuy nhiên, không phải tất cả các hành vi cạnh tranh là lành mạnh, hoàn hảo và giúp cho các chủ thể tham gia đạt đƣợc tất cả những gì mình mong muốn.
Trong thực tế, để có lợi thế trong kinh doanh, các chủ thể tham gia đã sử dụng những hành vi cạnh tranh không lành mạnh để làm tổn hại đến đối thủ tham gia cạnh tranh với mình. Cạnh tranh không mang ý nghĩa triệt tiêu lẫn nhau, nhƣng kết quả của cạnh tranh mang lại là hoàn toàn trái ngƣợc. Ở góc độ tích cực, cạnh tranh là nhân tố quan trọng góp phần phân bổ các nguồn lực có hạn của xã hội một cách hợp lý, trên cơ sở đó giúp nền kinh tế tạo lập một cơ cấu kinh tế hợp lý và hoạt động có hiệu quả. Bên cạnh đó, cạnh tranh góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tƣ vào sự tiến bộ của khoa học công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực dẫn đến gia tăng năng suất sản xuất xã hội, sử dụng hiệu quả các yếu tố sản xuất đầu vào nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu xã hội thông qua các sản phẩm, dịch vụ chất lƣợng cao, giá thành hạ và mẫu mã đa dạng.
Ở góc độ tiêu cực, cạnh tranh khiến cho những doanh nghiệp nhỏ, không có các yếu tố cạnh tranh sẽ bị chèn ép, không còn điều kiện phát triển. Nếu cạnh 9 z tranh chỉ nhằm mục đích chạy theo lợi nhuận thì có thể xảy ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho xã hội nhƣ môi trƣờng sinh thái bị hủy hoại, nguy hại cho sức khỏe con ngƣời, đạo đức xã hội bị xuống cấp, nhân cách con ngƣời bị tha hóa. Nếu xảy ra tình trạng này, nền kinh tế quốc gia sẽ phát triển một cách lệch lạc và không vì lợi ích của số đông. Về bản chất, cạnh tranh trong nền kinh tế thị trƣờng là cơ chế tự điều chỉnh, mang lợi ích cho cả ngƣời sản xuất cũng nhƣ ngƣời tiêu dùng.
Nhà sản xuất có thể chiếm lĩnh thị phần, tiêu thụ đƣợc nhiều sản phẩm hàng hoá để đạt đƣợc lợi nhuận cao nhất thông qua nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Năng lực cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu 1. Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu Theo Klaus Frohberg và cộng sự (2006), việc đánh giá khả năng cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu rất quan trọng đối với bất kỳ một doanh nghiệp xuất khẩu hàng nông sản nào. Đây là chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động của doanh nghiệp.
Do nhiệm vụ cơ bản của doanh nghiệp là sản xuất kinh doanh nên nếu hàng nông sản của doanh nghiệp có sức cạnh tranh thấp thì sức cạnh tranh của doanh nghiệp không thể cao đƣợc. Năng lực cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu đƣợc đánh giá dựa trên các tiêu chí cơ bản nhƣ: Chất lƣợng sản phẩm, thƣơng hiệu, khả năng thu hút nguồn lực. Chất lượng sản phẩm Có thể nói, ngày nay chất lƣợng là yếu tố quan trọng nhất ảnh hƣởng đến năng lực cạnh tranh của một sản phẩm. Chất lƣợng của sản phẩm càng cao thì vòng đời sản phẩm càng dài hay nói cách khác là khoảng thời gian tồn tại của sản phẩm trên thị trƣờng càng lâu.
Chất lƣợng sản phẩm là chỉ tiêu tổng hợp bao gồm: Chỉ tiêu kinh tế (chi phí sản xuất, chi phí bảo đảm chất lƣợng, chi phí sử dụng, chi phí môi trƣờng) và các chỉ tiêu kỹ thuật (công dụng, thẩm mỹ, an toàn vệ sinh, tiện dụng). Phần lớn các chỉ tiêu này đƣợc so sánh với tiêu chuẩn ngành, của quốc gia và của quốc tế. Một số chỉ tiêu định tính nhƣ thẩm mỹ, tiện dụng thƣờng đƣợc xác định thông qua điều tra khách hàng. Trong đó: 10 z Năng suất lao động là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh, năng suất lao động đƣợc đo bằng tỷ số giữa doanh thu thuần và số lao động trung bình trong kỳ.
Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng lực cạnh tranh, chỉ tiêu này cao phản ánh năng lực cạnh tranh cao. Chỉ tiêu năng suất thƣờng đƣợc sử dụng bao gồm: Năng suất lao động, hiệu suất sử dụng vốn và năng suất yếu tố tổng hợp.