Tổng quan nghiên cứu

Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và cột mốc Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007 đã mở ra những bước ngoặt lịch sử cho toàn bộ nền kinh tế, trong đó ngành du lịch đóng vai trò là ngành kinh tế mũi nhọn. Tỉnh Lâm Đồng, với hạt nhân là thành phố Đà Lạt, sở hữu những lợi thế đặc thù về khí hậu ôn đới mát mẻ quanh năm, cảnh quan thiên nhiên đa dạng và bản sắc văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên phong phú. Tuy nhiên, hiệu quả khai thác kinh tế du lịch tại địa phương vẫn chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có. Năm 2006, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của tỉnh đạt 3.807,5 tỷ đồng, trong đó thu nhập từ du lịch đóng góp 511,19 tỷ đồng, chỉ chiếm tỷ trọng 7,51% GDP toàn tỉnh.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ thực trạng năng lực cạnh tranh còn nhiều bất cập của các doanh nghiệp du lịch Lâm Đồng trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa lý luận về cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế; phân tích toàn diện thực trạng hoạt động kinh doanh du lịch của tỉnh giai đoạn 2000 - 2006; đối chiếu năng lực cạnh tranh của Lâm Đồng với các trung tâm du lịch lớn trong cả nước; và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp đến năm 2020.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, cơ sở lưu trú và dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, đặc biệt là địa bàn thành phố Đà Lạt, trong giai đoạn chuyển tiếp hội nhập sau khi gia nhập WTO. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp luận cứ khoa học để cải thiện các chỉ số kinh tế then chốt: gia tăng mức đóng góp của du lịch vào GDP địa phương lên trên 12%, nâng công suất sử dụng buồng phòng từ mức 56% năm 2006 lên trên 70%, và kéo dài thời gian lưu trú bình quân của du khách vượt qua con số 2,3 ngày.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng các lý thuyết kinh tế hiện đại về toàn cầu hóa, thương mại quốc tế và quản trị chiến lược:

Thứ nhất, lý thuyết về các cấp độ hội nhập kinh tế quốc tế, phân loại tiến trình hội nhập qua 5 giai đoạn phát triển từ thấp đến cao: Khu vực mậu dịch tự do (FTA), Liên minh thuế quan, Thị trường chung, Liên minh kinh tế, và Liên minh toàn diện. Khi gia nhập WTO, các cam kết về Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS) và Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMS) đòi hỏi các doanh nghiệp dịch vụ phải tuân thủ luật chơi bình đẳng, minh bạch, đồng thời chịu áp lực cạnh tranh trực tiếp từ các tập đoàn đa quốc gia.

Thứ hai, mô hình kim cương về lợi thế cạnh tranh của Giáo sư Michael Porter (Đại học Harvard), giải thích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và ngành thông qua sự tương tác của 4 nhóm yếu tố nền tảng: điều kiện về các yếu tố sản xuất (vốn, nguồn nhân lực, hạ tầng kỹ thuật); điều kiện về cầu (quy mô, tính chất thị trường nội địa và quốc tế); chiến lược, cấu trúc của doanh nghiệp và đối thủ cạnh tranh; cùng sự hỗ trợ của các ngành công nghiệp phụ trợ, liên quan.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng 4 khái niệm khoa học then chốt: năng lực cạnh tranh quốc gia (đo lường qua tính sáng tạo kinh tế, trình độ công nghệ và tiềm lực tài chính theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới - WEF); năng lực cạnh tranh doanh nghiệp (khả năng tối ưu hóa nguồn lực nội tại để duy trì thị phần và lợi nhuận); lợi thế so sánh động (lợi thế được kiến tạo từ tri thức, công nghệ và chất lượng quản trị thay vì chỉ dựa vào tài nguyên thiên nhiên và lao động giá rẻ); và chuỗi giá trị dịch vụ du lịch khép kín.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp hài hòa giữa phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử với các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm đa chiều:

Về nguồn dữ liệu, đề tài khai thác hệ thống dữ liệu thứ cấp từ Tổng cục Thống kê, Tổng cục Du lịch Việt Nam, Sở Du lịch - Thương mại Lâm Đồng và Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng trong chuỗi thời gian liên tục từ năm 2000 đến 4 tháng đầu năm 2007. Đồng thời, nghiên cứu sử dụng dữ liệu sơ cấp từ cuộc điều tra quy mô lớn với cỡ mẫu 696 khách du lịch quốc tế tại Lâm Đồng và 8.195 phiếu khảo sát đối chứng tại 11 tỉnh, thành phố trọng điểm trên cả nước (như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Nam, Đà Nẵng, Khánh Hòa).

Phương pháp chọn mẫu được thực hiện theo nguyên tắc chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện tại các cơ sở lưu trú, điểm tham quan danh lam thắng cảnh, phân bổ theo quốc tịch và ngôn ngữ sử dụng (tiếng Anh, Pháp, Trung, Nhật).

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích so sánh đối chiếu và phương pháp chuyên gia là nhằm nhận diện chính xác các khoảng cách phát triển giữa Lâm Đồng và các địa phương khác, đánh giá khách quan các biến số về chi tiêu, ngày lưu trú, thị hiếu du khách, từ đó tạo cơ sở thực nghiệm vững chắc cho các định hướng chiến lược đến năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh du lịch tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2000 - 2006 mang lại 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, quy mô doanh nghiệp còn nhỏ bé, manh mún và cơ cấu cơ sở lưu trú phát triển thiếu cân đối. Đến năm 2006, toàn tỉnh có 715 cơ sở lưu trú với 10.000 phòng (sức chứa khoảng 30.000 khách), nhưng chỉ có 54 khách sạn được xếp hạng từ 1 đến 5 sao (chiếm 7,55%), trong đó khách sạn cao cấp vô cùng khan hiếm khi chỉ có 1 khách sạn 5 sao và 2 khách sạn 4 sao. Khu vực tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm tới 51% tổng số doanh nghiệp với 750 nhà nghỉ quy mô nhỏ, hoạt động tự phát, chưa đủ chuẩn đón các đoàn khách quốc tế cao cấp.

Thứ hai, lượng khách tăng trưởng nhanh nhưng cơ cấu nguồn khách mất cân đối nghiêm trọng. Tổng lượt khách đến Lâm Đồng tăng từ 710.000 lượt (năm 2000) lên 1.848.000 lượt (năm 2006), đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 14%/năm. Tuy nhiên, khách quốc tế chỉ chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn và có xu hướng giảm sút về tỷ trọng: năm 2005 đạt 101.000 lượt (chiếm 6,9%), đến năm 2006 giảm xuống 97.000 lượt (chỉ chiếm 5,5% tổng lượng khách). Về cơ cấu thị trường khách quốc tế năm 2005, khách sử dụng tiếng Anh chiếm áp đảo với 84,8% và tiếng Pháp chiếm 13,8%, trong khi lượng khách từ các thị trường Đông Á giàu tiềm năng gần như bị bỏ ngỏ (khách nói tiếng Nhật chỉ đạt 1,3% và tiếng Trung chỉ chiếm 0,1%).

Thứ ba, hiệu quả khai thác kinh doanh và mức chi tiêu của du khách còn thấp. Thời gian lưu trú bình quân của du khách tại Lâm Đồng năm 2006 chỉ đạt 2,3 ngày. Công suất sử dụng buồng phòng bình quân năm 2005 là 55% và năm 2006 là 56%. Mức chi tiêu bình quân của khách quốc tế tại Lâm Đồng năm 2005 chỉ đạt 79,1 USD/ngày, thấp hơn đáng kể so với các điểm đến khác như Quảng Nam (119,1 USD/ngày), Thành phố Hồ Chí Minh (107,7 USD/ngày), Đà Nẵng (93,4 USD/ngày) và Hà Nội (92,1 USD/ngày).

Thứ tư, nguồn vốn đầu tư hạ tầng và tỷ lệ khai thác tài nguyên du lịch còn nhiều hạn chế. Trong tổng số 91 khu, điểm du lịch và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh, mới chỉ có 25 khu điểm và 12 di tích lịch sử - văn hóa được đưa vào khai thác kinh doanh thực tế (đạt tỷ lệ khai thác dưới 28%). Tổng vốn đầu tư cho toàn ngành năm 2006 đạt 500 tỷ đồng, nhưng nguồn vốn đầu tư cho hạ tầng giao thông và vận chuyển du lịch chỉ đạt 30 tỷ đồng (chiếm 6% tổng vốn đầu tư ngành).

Thảo luận kết quả

Thực trạng năng lực cạnh tranh thấp của du lịch Lâm Đồng bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân mang tính hệ thống. Các doanh nghiệp kinh doanh chủ yếu chạy theo lợi ích ngắn hạn, thiếu chiến lược tiếp thị bài bản và thiếu sự liên kết chuỗi giá trị. Tình trạng ép giá trong mùa cao điểm và đại hạ giá vào mùa thấp điểm làm suy giảm uy tín điểm đến. Đội ngũ lao động trực tiếp trong ngành du lịch toàn tỉnh năm 2006 chỉ có khoảng 4.500 người, phần lớn làm việc tại các cơ sở tư nhân gia đình, chưa qua đào tạo chuyên môn bài bản và hạn chế về trình độ ngoại ngữ.

Khi so sánh với bức tranh toàn quốc, ngành du lịch Việt Nam năm 2006 thu hút 3,585 triệu lượt khách quốc tế và 17,5 triệu lượt khách nội địa, tạo tổng thu 51.000 tỷ đồng (tương đương 3 tỷ USD), nhưng vẫn tụt hậu xa so với các quốc gia trong khu vực như Malaysia (17 tỷ USD) hay Thái Lan (13 tỷ USD). Việt Nam xếp hạng 87/124 quốc gia về chỉ số cạnh tranh du lịch thế giới. Mặc dù Lâm Đồng sở hữu môi trường sinh thái trong lành với 78,0% du khách đánh giá cảnh quan sạch đẹp (cao hơn mức 73,7% của Hà Nội và 74,0% của Thành phố Hồ Chí Minh), nhưng do thiếu các dịch vụ vui chơi giải trí cao cấp và sản phẩm quà lưu niệm độc đáo, nguồn thu từ du khách vẫn chủ yếu dừng lại ở dịch vụ lưu trú và ăn uống cơ bản.

Các dữ liệu nghiên cứu này có thể được trình bày một cách trực quan thông qua các bảng thống kê ma trận so sánh chi tiêu 12 tỉnh thành, bảng cơ cấu ngôn ngữ khách quốc tế và biểu đồ diễn tiến cơ số phòng - lượt khách - lao động giai đoạn 2000 - 2006 nhằm giúp các nhà quản trị nhận diện rõ nét những mắt xích yếu kém trong chuỗi giá trị du lịch địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Để nâng cao vượt bậc năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp ngành du lịch tỉnh Lâm Đồng trong môi trường WTO, 4 nhóm giải pháp chiến lược đồng bộ cần được triển khai:

Thứ nhất, hoàn thiện quy hoạch tổng thể và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng và Sở Du lịch - Thương mại cần khẩn trương rà soát, quy hoạch không gian du lịch bền vững đến năm 2020. Kiên quyết chấm dứt tình trạng đầu tư tự phát phá vỡ cảnh quan tại các danh thắng như Thung lũng Tình Yêu, hồ Than Thở; đồng thời triển khai cơ chế cấp phép một cửa thông thoáng nhằm nâng tỷ lệ khai thác các khu điểm du lịch tiềm năng từ 28% lên 60% vào năm 2015.

Thứ hai, đa dạng hóa sản phẩm du lịch và kéo dài thời gian lưu trú. Các doanh nghiệp lữ hành và lưu trú cần phối hợp thiết kế chuỗi sản phẩm đặc trưng: du lịch nghỉ dưỡng cao cấp, du lịch sinh thái rừng núi, du lịch hội thảo - sự kiện (MICE), du lịch canh nông gắn với thương hiệu hoa Đà Lạt và trải nghiệm văn hóa không gian cồng chiêng K'Ho. Mục tiêu hành động là nâng thời gian lưu trú bình quân của du khách từ 2,3 ngày lên 3,2 ngày và tăng mức chi tiêu bình quân của khách quốc tế từ 79,1 USD lên 110 USD/ngày trong giai đoạn 2008 - 2012.

Thứ ba, phát triển toàn diện nguồn nhân lực du lịch chuyên nghiệp. Hiệp hội Du lịch Lâm Đồng - Đà Lạt kết hợp cùng các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn xây dựng các chương trình đào tạo nghiệp vụ chuẩn quốc tế về lễ tân, buồng phòng, quản trị khách sạn và ngoại ngữ. Mục tiêu đặt ra là chuẩn hóa đào tạo cho 100% cán bộ quản lý doanh nghiệp và nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên ngành từ dưới 30% lên 75% trước năm 2015.

Thứ tư, tái cấu trúc nguồn lực tài chính và đẩy mạnh xúc tiến quảng bá quốc tế. Tỉnh cần ban hành chính sách ưu đãi đất đai, thuế để thu hút các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và nguồn vốn trong nước, phấn đấu tăng tổng vốn đầu tư xã hội vào du lịch từ 500 tỷ đồng lên 1.500 tỷ đồng/năm. Đổi mới công tác marketing thông qua việc mở văn phòng đại diện du lịch, đẩy mạnh xúc tiến trực tiếp vào thị trường Đông Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc), phấn đấu nâng tỷ trọng khách quốc tế từ 5,5% lên 15% vào năm 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống giải pháp của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Trung tâm Xúc tiến Đầu tư Thương mại và Du lịch tỉnh Lâm Đồng): Tài liệu là căn cứ khoa học vững chắc phục vụ công tác xây dựng đề án quy hoạch ngành, điều chỉnh chính sách ưu đãi đầu tư và ban hành quy chuẩn chất lượng dịch vụ du lịch địa phương thích ứng với các cam kết WTO.

Thứ hai, các nhà quản trị, chủ doanh nghiệp khách sạn, lữ hành và dịch vụ du lịch tại Lâm Đồng: Luận văn cung cấp bức tranh toàn cảnh về thị trường, dữ liệu phân tích thị hiếu du khách và các gợi ý chiến lược cụ thể để doanh nghiệp tái cấu trúc sản phẩm, định giá linh hoạt và đào tạo nhân sự đáp ứng chuẩn mực quốc tế.

Thứ ba, các nhà đầu tư tổ chức và cá nhân trong lĩnh vực du lịch sinh thái, bất động sản nghỉ dưỡng: Báo cáo phân tích sâu về thực trạng cung - cầu, cơ cấu buồng phòng và các phân khúc thị trường khách cao cấp còn bỏ ngỏ, giúp nhà đầu tư đánh giá chính xác tính khả thi và tiềm năng sinh lời của các dự án khách sạn 3-5 sao tại Đà Lạt.

Thứ tư, các chuyên gia nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế, Du lịch, Quản trị Kinh doanh: Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật chuẩn mực về phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh cấp địa phương và mô hình ứng dụng lý thuyết cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

Việc Việt Nam gia nhập WTO mang lại cơ hội lớn nhất nào cho các doanh nghiệp du lịch Lâm Đồng?

Gia nhập WTO giúp gỡ bỏ các rào cản thương mại, tạo môi trường pháp lý minh bạch theo chuẩn quốc tế và thúc đẩy mạnh mẽ dòng vốn FDI vào ngành du lịch, thể hiện qua việc cả nước thu hút hơn 190 dự án FDI với 4,64 tỷ USD, tạo đòn bẩy tài chính để Lâm Đồng nâng cấp hạ tầng và tiếp cận mạng lưới lữ hành toàn cầu.

Vì sao tỷ lệ khách quốc tế đến Lâm Đồng giai đoạn 2000 - 2006 chỉ chiếm dưới 7% tổng lượng khách?

Nguyên nhân chủ yếu do sản phẩm du lịch còn trùng lặp, thiếu các dịch vụ vui chơi giải trí cao cấp ban đêm, hệ thống giao thông kết nối liên vùng hạn chế và công tác xúc tiến thị trường quốc tế còn yếu kém, dẫn đến nguồn khách chủ yếu là khách nội địa (chiếm 94,5% năm 2006 với 1.751.000 lượt).

Mô hình kim cương của Michael Porter được vận dụng như thế nào trong phân tích du lịch Lâm Đồng?

Mô hình kim cương được áp dụng để đánh giá toàn diện 4 trụ cột cạnh tranh: yếu tố sản xuất (cơ sở hạ tầng, nhân lực); điều kiện cầu (thị hiếu du khách, mức chi tiêu 79,1 USD/ngày); chiến lược doanh nghiệp (tính chuyên nghiệp, cạnh tranh lành mạnh); và các ngành công nghiệp hỗ trợ (nông nghiệp công nghệ cao, giao thông, văn hóa).

Đâu là rào cản lớn nhất về hệ thống cơ sở lưu trú của Lâm Đồng được nghiên cứu chỉ ra?

Rào cản lớn nhất là sự mất cân đối nghiêm trọng về chất lượng phòng: toàn tỉnh năm 2006 có tới 750 nhà nghỉ tư nhân quy mô nhỏ nhưng chỉ có 3 khách sạn đạt chuẩn 4-5 sao, khiến Lâm Đồng hoàn toàn thiếu năng lực phục vụ các đoàn khách du lịch công vụ và nghỉ dưỡng cao cấp quy mô trên 1.000 người.

Giải pháp tài chính nào mang tính đột phá để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành?

Giải pháp tài chính mang tính quyết định là chuyển đổi cơ cấu sở hữu thông qua cổ phần hóa thực chất các doanh nghiệp nhà nước (như bài học thành công của Toserco Đà Lạt), kết hợp ban hành cơ chế ưu đãi để thu hút vốn FDI và vốn đầu tư ngoài quốc doanh, nâng quy mô đầu tư hạ tầng du lịch vượt mốc 1.500 tỷ đồng/năm.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng phát triển của ngành du lịch tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2000 - 2006, chỉ rõ điểm nghẽn về cơ cấu khách quốc tế thấp (5,5%) và mức chi tiêu bình quân còn khiêm tốn (79,1 USD/ngày).
  • Đề tài vận dụng thành công mô hình lý thuyết kim cương cạnh tranh của Michael Porter và các nguyên tắc thương mại dịch vụ của WTO để giải quyết bài toán nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại địa phương.
  • Nghiên cứu đề xuất hệ thống giải pháp liên hoàn kết hợp giữa quản lý vĩ mô của nhà nước và quản trị vi mô của doanh nghiệp, tập trung vào đa dạng hóa sản phẩm, chuẩn hóa nhân lực và tái cấu trúc nguồn vốn đầu tư.
  • Lộ trình phát triển được định hình theo 2 giai đoạn: giai đoạn 2008 - 2012 tập trung hoàn thiện quy hoạch và nâng cấp hạ tầng cơ bản; giai đoạn 2013 - 2020 bứt phá trở thành trung tâm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và hội nghị tầm cỡ khu vực Đông Nam Á.
  • Các cấp chính quyền địa phương và cộng đồng doanh nghiệp du lịch Lâm Đồng cần khẩn trương phối hợp hành động, chuyển đổi tư duy kinh doanh từ khai thác tài nguyên thô sang kiến tạo giá trị gia tăng cao, bảo đảm phát triển du lịch bền vững và hội nhập quốc tế thành công.