Tổng quan nghiên cứu

Kiên Giang là tỉnh ven biển thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long sở hữu tiềm năng tự nhiên vượt trội với hơn 200 km bờ biển, 140 hòn đảo lớn nhỏ và Khu dự trữ sinh quyển thế giới được UNESCO công nhận năm 2006 có diện tích hơn 1,1 triệu ha. Trong giai đoạn 2000-2012, hoạt động du lịch của tỉnh ghi nhận sự gia tăng về quy mô khi tổng lượt khách tăng bình quân 12,02%/năm (từ 992.506 lượt năm 2000 lên 3.852.740 lượt năm 2012) và doanh thu du lịch tăng trưởng bình quân 30,71%/năm. Tuy nhiên, nguồn thu từ du lịch đóng góp rất khiêm tốn vào ngân sách địa phương, thường xuyên duy trì dưới mức 30 tỷ đồng/năm trong giai đoạn 2008-2012, chỉ tương đương khoảng 10% so với số tiền nộp ngân sách 233,48 tỷ đồng từ 3 doanh nghiệp sản xuất xi măng lớn trên địa bàn.

Cơ cấu phát triển du lịch của tỉnh bộc lộ sự mất cân đối nghiêm trọng khi doanh thu phụ thuộc hơn 70% vào huyện đảo Phú Quốc, trong khi các địa bàn giàu tiềm năng địa mạo karst như Hà Tiên và Kiên Lương chỉ đóng góp xấp xỉ 1%. Đồng thời, tỉnh đối mặt với xung đột chiến lược gay gắt giữa bảo tồn cảnh quan phát triển du lịch và khai thác tài nguyên khoáng sản với 6 nhà máy xi măng có tổng công suất 5 triệu tấn/năm dựa trên trữ lượng 255 triệu tấn đá vôi.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện thực trạng năng lực cạnh tranh của cụm ngành du lịch Kiên Giang, xác định các điểm nghẽn kìm hãm sự tăng trưởng và đề xuất hệ thống giải pháp chính sách phát triển du lịch sinh thái bền vững. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các chủ thể tham gia cụm ngành du lịch tại các địa bàn trọng điểm gồm Phú Quốc, Rạch Giá, Hà Tiên và Kiên Lương trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2012.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Lý thuyết Năng lực cạnh tranh và Mô hình Cụm ngành (Cluster) của Michael E. Porter (2008), được điều chỉnh phù hợp với cấp độ địa phương theo khung phân tích của Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh (2011). Năng lực cạnh tranh của địa phương được định nghĩa thông qua năng suất sử dụng lao động, vốn và tài nguyên thiên nhiên, chịu sự chi phối của ba nhóm nhân tố: lợi thế sẵn có (vị trí địa lý, tài nguyên), năng lực cạnh tranh cấp địa phương (chính sách, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội) và năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp (môi trường kinh doanh, chiến lược hoạt động). Mô hình Kim cương Porter phân tích 4 trụ cột tương tác gồm: điều kiện nhân tố sản xuất, điều kiện nhu cầu, các ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan, bối cảnh chiến lược và cạnh tranh, đặt dưới sự tác động điều phối của chính quyền địa phương.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp mô hình đánh giá điểm đến cạnh tranh của Dwyer và Kim (2003) cùng hệ thống lý thuyết về Du lịch sinh thái (Ecotourism) theo định nghĩa của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP, 2002). Luận văn làm rõ sự khác biệt bản chất giữa du lịch dựa vào thiên nhiên thuần túy và du lịch sinh thái gắn liền với trách nhiệm bảo tồn, giáo dục môi trường và nâng cao sinh kế cộng đồng. Bài học kinh nghiệm quốc tế từ Costa Rica – quốc gia bảo vệ 21% lãnh thổ qua 24 công viên quốc gia, tạo nguồn thu 3,77 tỷ USD từ du lịch năm 2008 – cùng các chương trình nhãn sinh thái như Nhãn Bông Sen Xanh của Việt Nam và Green Leaf của Thái Lan được sử dụng làm khung tham chiếu thực tiễn.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính kết hợp phân tích thống kê mô tả nhằm đánh giá đa chiều năng lực cạnh tranh cụm ngành. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám Thống kê tỉnh Kiên Giang, Báo cáo tổng kết của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch giai đoạn 2000-2012, số liệu Cục Thuế, Hiệp hội Du lịch Đồng bằng sông Cửu Long và Báo cáo Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) do VCCI công bố.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát bảng hỏi với cỡ mẫu 113 khách du lịch (bao gồm 57 du khách quốc tế và 56 du khách nội địa) theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện tại các điểm đến chính: Phú Quốc, Rạch Giá, Hà Tiên, Kiên Lương. Đồng thời, tác giả thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu bán cấu trúc với đại diện cơ quan quản lý nhà nước (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Thuế), các doanh nghiệp lữ hành, cơ sở lưu trú và chuyên gia môi trường. Phương pháp phân tích cụm ngành theo mô hình Kim cương được lựa chọn vì cho phép bóc tách mối quan hệ tương hỗ phức tạp giữa các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ, cơ quan quản lý và các điều kiện kinh tế - môi trường đặc thù của địa phương, vượt ra khỏi các đánh giá định lượng tài chính đơn lẻ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu thực tế chỉ ra 4 phát hiện trọng tâm về sự suy giảm năng lực cạnh tranh của cụm ngành du lịch Kiên Giang:

Thứ nhất, tồn tại xung đột gay gắt giữa định hướng phát triển công nghiệp khai khoáng và ngành du lịch. Hoạt động khai thác đá vôi sản xuất xi măng tại Kiên Lương và Hà Tiên tạo ra nguồn thu ngân sách trước mắt chiếm khoảng 40% tổng thu toàn tỉnh, trong khi doanh thu du lịch chỉ đóng góp dưới 30 tỷ đồng tiền thuế mỗi năm (chỉ bằng 10% so với số thuế của các nhà máy xi măng chủ lực). Việc khai thác 255 triệu tấn đá vôi đã phá hủy nghiêm trọng cảnh quan karst độc nhất vô nhị của miền Nam và gây ô nhiễm bụi nặng nề dọc các trục giao thông dẫn đến các khu danh thắng.

Thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực du lịch ở mức báo động. Mặc dù số lượng lao động du lịch tăng bình quân 28,6%/năm từ 1.703 người năm 2005 lên 5.978 người năm 2010, nhưng hơn 90% lao động trong các doanh nghiệp kinh doanh du lịch có trình độ dưới trung cấp (94% năm 2009 và 93% năm 2010). Tính đến năm 2012, toàn tỉnh chỉ có 92 hướng dẫn viên được cấp thẻ, trong đó vỏn vẹn 3 người có thẻ hướng dẫn viên quốc tế, dẫn đến tình trạng 65 lượt khách quốc tế được khảo sát phản ánh gặp trở ngại lớn về bất đồng ngôn ngữ.

Thứ ba, sự đứt gãy giữa kỳ vọng của du khách và chất lượng sản phẩm dịch vụ thực tế. Có 54% du khách lựa chọn Kiên Giang vì hình ảnh biển đảo hoang sơ, nhưng chỉ có 25% khách quốc tế tham gia hoạt động tắm biển. Nguyên nhân trực tiếp là 59,18% du khách than phiền về tình trạng ô nhiễm rác thải và mùi hôi tại các bãi biển. Đồng thời, dù tỉnh sở hữu khu sinh quyển hơn 1,1 triệu ha, chỉ có 5% du khách nhận thức được Kiên Giang có tài nguyên rừng phong phú.

Thứ tư, cơ sở hạ tầng yếu kém và tình trạng quy hoạch đất đai chồng chéo. Hệ thống đường bộ nội tỉnh có tỷ lệ rải nhựa rất thấp theo đánh giá PCI 2011. Tại Phú Quốc, hệ thống điện lưới quốc gia chưa hoàn thiện, 25% hộ dân chưa tiếp cận được nguồn điện ổn định mà phải phụ thuộc vào máy phát diesel. Tình trạng cấp phép đầu tư dàn trải lên tới 6.971 ha đất du lịch tại Phú Quốc (vượt xa mức quy hoạch 1.800 ha đến năm 2020) đã khiến Thanh tra Chính phủ đề nghị thu hồi 59 dự án du lịch chậm triển khai vào cuối năm 2011.

Thảo luận kết quả

Thực trạng năng lực cạnh tranh của du lịch Kiên Giang phản ánh căn bệnh "lời nguyền tài nguyên" khi địa phương ưu tiên các ngành khai thác công nghiệp mang lại nguồn thu ngân sách nhanh trong ngắn hạn nhưng làm tổn hại nền tảng tài nguyên sinh thái dài hạn. Các doanh nghiệp lữ hành chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ, liên kết lỏng lẻo; 47 đơn vị lữ hành trên địa bàn phần lớn kết hợp kinh doanh thương mại gạo hoặc thủy sản, xem du lịch là mảng phụ trợ.

Để làm rõ các phát hiện nghiên cứu, dữ liệu khảo sát có thể được mô hình hóa trực quan qua các bảng biểu chuyên sâu. Khoảng cách giữa kỳ vọng và trải nghiệm thực tế của du khách về các yếu tố biển, rừng, vệ sinh và giá cả được thể hiện tối ưu thông qua biểu đồ phân tán bốn góc phần tư (IPA - Importance-Performance Analysis). Tương tự, sự chuyển dịch cơ cấu chất lượng lao động giai đoạn 2009-2010 với hơn 93% nhân lực chưa qua đào tạo chuẩn mực được trình bày qua biểu đồ tròn đa tầng (donut chart), và sự phân hóa mức chi tiêu (200.000 VNĐ/khách toàn tỉnh so với 1.200.000 VNĐ/khách tại Phú Quốc) được minh họa bằng biểu đồ cột so sánh theo từng điểm đến.

So chiếu với kinh nghiệm của Costa Rica, sự yếu kém của du lịch Kiên Giang nằm ở sự thiếu vắng các thể chế điều phối cụm ngành, sự chậm trễ trong việc áp dụng hệ thống chứng chỉ môi trường như Nhãn Bông Sen Xanh và sự thiếu hụt các sản phẩm du lịch sinh thái cộng đồng có giá trị gia tăng cao. Điểm sáng duy nhất là 63,81% du khách được khảo sát bày tỏ sẵn sàng chi trả thêm nếu các cơ sở dịch vụ đáp ứng tiêu chuẩn thân thiện với môi trường, mở ra tiềm năng lớn cho phân khúc du lịch sinh thái cao cấp.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm tháo gỡ ba nút thắt lớn nhất về nhận thức chính sách, tính chuyên nghiệp của thể chế và sự yếu kém của hạ tầng, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

Thứ nhất, tái định hình động lực kinh tế và kiểm soát ngành công nghiệp khai khoáng. Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang cần rà soát, điều chỉnh quy hoạch công nghiệp vật liệu xây dựng, ban hành lộ trình đóng cửa hoặc hạn chế công suất các mỏ khai thác đá vôi tại Hà Tiên và Kiên Lương đến năm 2025; kiên quyết không cấp phép mới cho các dự án xi măng nhằm bảo tồn cảnh quan karst phục vụ du lịch sinh thái, hướng tới mục tiêu nâng tỷ trọng đóng góp của du lịch trong tổng thu ngân sách địa phương từ 5% lên 20% vào năm 2025.

Thứ hai, chuẩn hóa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì liên kết với các trường cao đẳng trong tỉnh và các cơ sở đào tạo uy tín tại Thành phố Hồ Chí Minh mở các khóa đào tạo nghiệp vụ quản lý khách sạn, kỹ năng hướng dẫn viên và ngoại ngữ chuyên sâu. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ mức 6,36% lên 40% trong giai đoạn 2014-2020, cấp thẻ chuẩn hóa cho ít nhất 300 hướng dẫn viên nội địa và 50 hướng dẫn viên quốc tế trước năm 2018.

Thứ ba, tập trung nguồn lực hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật trọng điểm tại Phú Quốc. Sở Giao thông Vận tải và Ban Quản lý Đầu tư Phát triển đảo Phú Quốc đẩy nhanh tiến độ trục giao thông Bắc - Nam và đường vòng quanh đảo kết nối Sân bay Quốc tế Phú Quốc; phối hợp cùng ngành điện lực hoàn thành dự án đường dây cáp ngầm 110kV xuyên biển Hà Tiên - Phú Quốc để cung cấp điện lưới ổn định cho 100% cơ sở kinh doanh du lịch. Đồng thời, kiên quyết thu hồi dứt điểm 59 dự án du lịch chậm tiến độ để tái phân bổ quỹ đất cho các nhà đầu tư sinh thái chiến lược.

Thứ tư, xây dựng hệ thống nhãn sinh thái và phát triển chuỗi giá trị đặc sản địa phương. Hiệp hội Du lịch phối hợp Sở Tài nguyên và Môi trường triển khai bộ tiêu chí Nhãn Bông Sen Xanh cho 100% khách sạn từ 2 sao trở lên tại Phú Quốc và Rạch Giá; thiết lập quy chế kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt đối với các sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý như Nước mắm Phú Quốc, ngọc trai và tiêu Phú Quốc nhằm loại bỏ hàng giả, bảo vệ uy tín thương hiệu địa phương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị học thuật và thực tiễn sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng:

Thứ nhất, lãnh đạo Ủy ban nhân dân, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Kế hoạch và Đầu tư các tỉnh ven biển: Nghiên cứu cung cấp khung phân tích chính sách công sắc bén để giải quyết xung đột kinh tế giữa công nghiệp khai khoáng và bảo tồn du lịch sinh thái, hỗ trợ hoạch định chiến lược cụm ngành bền vững.

Thứ tư, các doanh nghiệp lữ hành, chuỗi khách sạn và nhà đầu tư phát triển du lịch: Dữ liệu phân tích cung - cầu và mức độ sẵn sàng chi trả của du khách giúp doanh nghiệp thiết kế các tour sinh thái rừng - biển tích hợp, đón đầu xu hướng tiêu dùng xanh và xây dựng hệ thống cơ sở lưu trú đạt chuẩn nhãn sinh thái.

Thứ ba, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Chính sách công, Kinh tế phát triển và Quản trị dịch vụ du lịch: Luận văn là tài liệu tham khảo thực chứng mẫu mực về cách thức ứng dụng mô hình Kim cương của Michael E. Porter được điều chỉnh vào bối cảnh cấp tỉnh tại Việt Nam.

Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ và cơ quan tài trợ quốc tế (như GIZ, AusAID, IUCN): Báo cáo thực địa chi tiết về Khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang đóng vai trò nguồn tư liệu giá trị để xây dựng các dự án tài trợ bảo tồn đa dạng sinh học gắn với sinh kế bền vững cho cư dân bản địa.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao du lịch Kiên Giang tăng trưởng nhanh về lượng khách nhưng đóng góp ngân sách lại rất thấp? Trong giai đoạn 2000-2012, lượt khách tăng bình quân 12,02%/năm nhưng nguồn thu từ du lịch dưới 30 tỷ đồng/năm. Nguyên nhân do mức chi tiêu bình quân của khách toàn tỉnh rất thấp (khoảng 200.000 VNĐ/người), thời gian lưu trú ngắn (1,5 ngày), hạ tầng dịch vụ bổ trợ nghèo nàn và chính sách ưu đãi miễn giảm thuế để thu hút đầu tư ban đầu làm suy giảm nguồn thu trực tiếp của tỉnh.

Mô hình Kim cương của Michael E. Porter được điều chỉnh như thế nào trong nghiên cứu này? Mô hình gốc được điều chỉnh theo khung phân tích của Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh, nhấn mạnh sự tương tác giữa 4 trụ cột (nhân tố sản xuất, điều kiện cầu, công nghiệp phụ trợ, bối cảnh chiến lược) với vai trò trung tâm của chính quyền địa phương trong việc định hình quy hoạch đất đai, bảo vệ môi trường và giải quyết xung đột lợi ích giữa công nghiệp và du lịch.

Khảo sát 113 du khách đã chỉ ra điểm nghẽn lớn nhất của du lịch biển đảo Kiên Giang là gì? Khảo sát thực địa chỉ ra nghịch lý: 54% khách đến Kiên Giang vì kỳ vọng biển đẹp nhưng chỉ 25% khách quốc tế tắm biển. Điểm nghẽn nghiêm trọng nhất là chất lượng vệ sinh môi trường bãi biển bị 59,18% du khách đánh giá kém do rác thải và nước thải chưa qua xử lý, kết hợp hạ tầng giao thông kết nối bãi tắm còn gập ghềnh, thiếu biển chỉ dẫn.

Bài học thực tiễn nào từ Costa Rica có thể áp dụng ngay cho cụm ngành du lịch Kiên Giang? Kiên Giang cần học tập Costa Rica trong việc thiết lập hệ thống thanh toán dịch vụ môi trường rừng, quy hoạch 21% diện tích tự nhiên thành các khu bảo tồn nghiêm ngặt, chuyển hướng thu hút các cơ sở lưu trú sinh thái quy mô nhỏ thay vì khách sạn cao tầng bê tông hóa, đồng thời áp dụng rộng rãi chứng nhận du lịch bền vững.

Vì sao doanh thu du lịch Kiên Giang lại phụ thuộc thái quá vào huyện đảo Phú Quốc? Phú Quốc đóng góp hơn 70% tổng doanh thu du lịch toàn tỉnh nhờ sở hữu Sân bay Quốc tế và mức chi tiêu của du khách đạt trên 1.200.000 VNĐ/người/chuyến. Trong khi đó, các địa bàn giàu tiềm năng trên đất liền như Hà Tiên, Kiên Lương bị ô nhiễm bởi các nhà máy xi măng, dịch vụ tự phát, khiến mức chi tiêu của khách tại đây chỉ đạt dưới 10.000 VNĐ/lượt.

Kết luận

Luận văn đã hoàn thành việc đánh giá toàn diện năng lực cạnh tranh cụm ngành du lịch tỉnh Kiên Giang thông qua 5 đúc kết then chốt:

  • Chứng minh năng lực cạnh tranh du lịch địa phương phụ thuộc vào năng suất tổng hợp và chất lượng thể chế điều phối chứ không chỉ dựa vào tài nguyên thiên nhiên sẵn có.
  • Bóc tách rõ ràng nghịch lý cơ cấu kinh tế giữa lợi ích ngắn hạn từ 6 nhà máy xi măng (công suất 5 triệu tấn/năm) và sự suy thoái tài nguyên sinh thái dài hạn.
  • Xác định nguyên nhân cốt lõi khiến chất lượng dịch vụ thấp là do hơn 90% lao động chưa qua đào tạo trung cấp và cơ sở hạ tầng giao thông, điện lưới thiếu đồng bộ.
  • Cung cấp minh chứng thực địa từ 113 du khách về sự lệch pha giữa tiềm năng sinh quyển 1,1 triệu ha và tỷ lệ khai thác sản phẩm du lịch thực tế.
  • Đề xuất lộ trình đồng bộ từ cấp tỉnh đến doanh nghiệp nhằm phát triển Phú Quốc và dải ven biển Hà Tiên - Kiên Lương thành trung tâm du lịch sinh thái tầm cỡ quốc tế.

Đóng góp lớn nhất của nghiên cứu là cung cấp cơ sở khoa học để chính quyền Kiên Giang thay đổi tư duy quản trị, kiên quyết thoát khỏi bẫy khai thác khoáng sản để chuyển dịch sang nền kinh tế dịch vụ xanh. Trong giai đoạn tiếp theo, các nhà nghiên cứu chính sách cần tiếp tục mở rộng đánh giá cơ chế phân cấp quản lý đặc thù cho đảo Phú Quốc và xây dựng mô hình liên kết du lịch xuyên biên giới với Campuchia và Thái Lan. Các nhà quản lý và doanh nghiệp hãy khai thác các phát hiện từ luận văn để chuyển hóa tiềm năng tài nguyên thành năng lực cạnh tranh thực tế, đưa Kiên Giang phát triển thịnh vượng và bền vững.