Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước sau khi Việt Nam gia nhập WTO

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ueb nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước sau khi việt nam ra nhập wto, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sỹ

2007

114
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC KHI GIA NHẬP WTO

1.1. Tổng quan về cạnh tranh

1.2. Khái niệm cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRƯỚC KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO

3. CHƯƠNG 3: NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp nhà nước

Việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước sau khi Việt Nam gia nhập WTO là một vấn đề cấp thiết. Doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, nắm giữ nhiều tài sản và nguồn lực. Tuy nhiên, sự cạnh tranh từ các doanh nghiệp tư nhân và nước ngoài đang gia tăng, đòi hỏi doanh nghiệp nhà nước phải cải thiện năng lực cạnh tranh để tồn tại và phát triển.

1.1. Khái niệm năng lực cạnh tranh doanh nghiệp nhà nước

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước được hiểu là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận trong môi trường cạnh tranh. Điều này bao gồm việc cải thiện chất lượng sản phẩm, dịch vụ và tối ưu hóa quy trình sản xuất.

1.2. Tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực cạnh tranh

Nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ giúp doanh nghiệp nhà nước tồn tại mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Điều này cũng tạo ra cơ hội cho các thành phần kinh tế khác phát triển và cạnh tranh lành mạnh.

II. Thách thức đối với doanh nghiệp nhà nước sau khi gia nhập WTO

Sau khi gia nhập WTO, doanh nghiệp nhà nước phải đối mặt với nhiều thách thức. Cạnh tranh từ các doanh nghiệp nước ngoài gia tăng, yêu cầu về chất lượng sản phẩm và dịch vụ cũng cao hơn. Điều này đặt ra áp lực lớn lên doanh nghiệp nhà nước trong việc cải thiện năng lực cạnh tranh.

2.1. Cạnh tranh từ doanh nghiệp tư nhân và nước ngoài

Sự gia tăng của các doanh nghiệp tư nhân và nước ngoài tạo ra áp lực lớn lên doanh nghiệp nhà nước. Họ phải cải thiện chất lượng sản phẩm và dịch vụ để giữ vững thị phần.

2.2. Yêu cầu về chất lượng và dịch vụ

Khách hàng ngày càng đòi hỏi cao hơn về chất lượng và dịch vụ. Doanh nghiệp nhà nước cần phải nâng cao tiêu chuẩn sản phẩm và dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của thị trường.

III. Phương pháp nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp nhà nước

Để nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp nhà nước cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Việc cải tiến quy trình sản xuất, đầu tư vào công nghệ mới và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là những yếu tố quan trọng.

3.1. Đổi mới công nghệ và quy trình sản xuất

Đầu tư vào công nghệ mới và cải tiến quy trình sản xuất giúp doanh nghiệp nhà nước nâng cao hiệu quả và giảm chi phí. Điều này cũng giúp cải thiện chất lượng sản phẩm.

3.2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là yếu tố then chốt trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh. Doanh nghiệp nhà nước cần chú trọng đến việc phát triển kỹ năng và năng lực cho nhân viên.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước có thể mang lại nhiều lợi ích. Các doanh nghiệp đã áp dụng các phương pháp cải tiến và đạt được kết quả tích cực trong việc tăng trưởng và phát triển.

4.1. Các mô hình thành công trong nâng cao năng lực cạnh tranh

Một số doanh nghiệp nhà nước đã áp dụng thành công các mô hình cải tiến và đạt được kết quả tốt. Họ đã tăng trưởng doanh thu và mở rộng thị phần.

4.2. Kết quả từ các nghiên cứu thực tiễn

Các nghiên cứu cho thấy rằng việc nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ giúp doanh nghiệp nhà nước tồn tại mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

V. Kết luận và tương lai của doanh nghiệp nhà nước

Việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước là một yêu cầu bức thiết trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Tương lai của các doanh nghiệp này phụ thuộc vào khả năng thích ứng và cải tiến liên tục.

5.1. Tương lai của doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh hội nhập

Trong bối cảnh hội nhập, doanh nghiệp nhà nước cần phải tiếp tục cải tiến và đổi mới để giữ vững vị thế trên thị trường.

5.2. Những cơ hội và thách thức phía trước

Mặc dù có nhiều thách thức, nhưng cũng có nhiều cơ hội cho doanh nghiệp nhà nước phát triển. Việc nắm bắt cơ hội và vượt qua thách thức sẽ quyết định sự thành công trong tương lai.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueb nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước sau khi việt nam ra nhập wto

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC KHI GIA NHẬP WTO 1.1 Tổng quan về cạnh tranh 1.1 Khái niệm cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp * Khái niệm cạnh tranh: Kinh tế thị trường được xem như là một trong những thành tựu vĩ đại nhất trong lịch sử phát triển của văn minh nhân loại. Nó luôn hàm chứa trong mình những cơ hội và thách thức đối với sự nhạy bén và sáng tạo của con người trong môi trường cạnh tranh. Dưới tác động của quy luật cung cầu, quy luật giá trị, các chủ thể kinh doanh đã cạnh tranh với nhau để cùng với bên kia của thị trường (người tiêu dùng) xác định giá cả và sản lượng của hàng hóa. Dưới tác động của cạnh tranh, thị trường tự thân nó luôn luôn phải giải quyết sự mâu thuẫn không ngừng vận động giữa sở thích của người tiêu dùng và hạn chế kỹ thuật (giới hạn khả năng sản xuất).

Do vậy, cạnh tranh là một hiện tượng gắn liền với kinh tế thị trường. Nó chỉ xuất hiện trong điều kiện của kinh tế thị trường, nơi mà cung và cầu là cốt vật chất, giá cả là diện mạo và cạnh tranh là linh hồn sống của thị trường. Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh không những là môi trường và động lực của sự phát triển nói chung, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển và tăng năng suất lao động, hiệu quả của các doanh nghiệp nói riêng mà còn là nhân tố quan trọng làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội. Thực tế cho thấy cạnh tranh là hoạt động xã hội hết sức phức tạp đòi hỏi được làm sáng tỏ ở nhiều tầng tiếp cận khác nhau.

5 Cạnh tranh theo định nghĩa của Đại từ điển Tiếng Việt là “ganh đua giữa những cá nhân, tập thể có chức năng khác nhau, nhằm giành phần hơn, phần thắng về mình”. Theo Mác, “Cạnh tranh là nguồn gốc đẩy tới sự mù quáng của chủ nghĩa tư bản tự do phóng túng, sự sung đột mãi mãi giữa các lực lượng cũ và mới, đồng thời cũng là một cuộc vật lộn sống chết mà các nhà tư bản không thể không tham dự”. Quan điểm này cho thấy sự cạnh tranh là sự ganh đua gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu lợi nhuận siêu ngạch. Trong từ điển thuật ngữ kinh tế học (Nhà xuất bản Bách Khoa Hà Nội – 2001) thì cạnh tranh “là sự đấu tranh đối lập giữa các cá nhân, các tập đoàn hay quốc gia.

Cạnh tranh nảy sinh khi hai hay nhiều bên cố gắng giành lấy thứ mà không phải ai cũng có thể giành được”. Trong từ điển kinh doanh (xuất bản tại Anh năm 1992). “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”. Ủy ban cạnh tranh công nghiệp của tổng thống Mỹ cho rằng “ cạnh tranh đối với một quốc gia là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện của thị trường tự do và công bằng, có thể sản xuất các hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng thu nhập thực tế của nhân dân nước đó”.

Giáo trình Kinh tế học chính trị Mác – Lênin nêu ra định nghĩa: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất – kinh doanh với nhau nhằm giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất – kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Mục tiêu của cạnh tranh là giành lợi ích, lợi nhuận lớn nhất, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của chủ thể tham gia cạnh tranh. 6 Các quan niệm trên đây có sự khác biệt trong diễn đạt và phạm vi, nhưng có những nét tương đồng về nội dung. Từ đó có thể đưa ra một quan niệm tổng quát sau đây về cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như những điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất.

Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích, đối với người sản xuất – kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi. Như vậy, cạnh tranh, xét về bản chất luôn được nhìn nhận trong trạng thái động và ràng buộc trong mối quan hệ so sánh tương đối. Vì vậy, mọi quan hệ giao tiếp mà các bên tham gia nỗ lực tìm kiếm vị thế có lợi cho mình đều có thể diễn tả trong khái niệm cạnh tranh. Khái niệm cạnh tranh được xem xét đầy đủ trên cả hai mặt: tích cực tạo động lực cho sự vươn tới một kết quả tốt nhất, nhưng một khi những kỹ năng này được thể hiện một cách cực đoan, nó có thể dẫn đến một thực trạng tiêu cực với kết quả trái ngược nhau.

Trong xu thế hội nhập vào trào lưu tự do hóa thương mại, khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh được sử dụng rộng rãi trên quy mô toàn cầu, việc tiếp cận những khái niệm đó cũng cần được xác định trên cơ sở logic, hệ thống. Theo đó, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp phải được phân tích trong lợi thế cạnh tranh ngành, quốc gia, khu vực. * Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được sử dụng khá phổ biến trong lý thuyết về tổ chức ngành công nghiệp. Lý thuyết này cho rằng, một doanh nghiệp được coi là có sức cạnh tranh khi doanh nghiệp đó đứng vững trên thị trường bằng cách sản xuất ra những sản phẩm tương tự các đối thủ với mức giá thấp hơn hay bằng cách cung cấp các sản phẩm tương tự với các đặc tính về chất lượng hoặc dịch vụ hoàn hảo, đáp ứng được thị hiếu cho khách hàng trong môi trường cạnh tranh lành mạnh.

Một doanh nghiệp yếu 7 kém về năng lực cạnh tranh sẽ bị đẩy ra khỏi thị trường nếu như doanh nghiệp đó không kịp thời thay đổi “ hình ảnh” của mình trước các đối thủ. Lợi ích mà doanh nghiệp này đạt được trong cạnh tranh đồng nghĩa với việc gây ra những “ tổn thương” cho doanh nghiệp khác là đối thủ tham gia cạnh tranh với mình. Cạnh tranh của các doanh nghiệp trong một ngành nào đó có tính chất sống còn sẽ được đặc trưng bởi trò chơi mà nếu một bên được thì bên kia phải mất: zero- sumgame Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) và chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) cho rằng: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước”(1). Có ý kiến khác: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là phát huy thực lực, sử dụng lợi thế để tồn tại và phát triển trên thị trường một cách vững chắc nhằm thu được lợi nhuận ngày càng cao”(2).

Cuốn sách Asian Development Outlook, xuất bản năm 2003, trang 205 định nghĩa năng lực cạnh tranh (Competitiveness) là “Khả năng của một công ty tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức và chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh các thị trường mới” và “một công ty có sức cạnh tranh nếu có thể sản xuất các sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao và chi phí thấp hơn các đối thủ cạnh tranh trong nước và quốc tế của nó. Năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với lợi nhuận dài hạn và khả năng của nó để bồi hoàn cho người lao động và tạo ra thu nhập cho các chủ sở hữu”. Có ý kiến khác chi tiết và tổng quát hơn cho rằng : “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được phản ánh không chỉ bằng năng lực cạnh tranh của các sản phẩm, dịch vụ do nó cung ứng, mà nó còn bằng năng lực tài chính, năng lực quản lý (cả đối nội và đối ngoại), vị thế của doanh nghiệp trên 8 thị trường cũng như uy tín của chính doanh nghiệp. Nhưng, năng lực cạnh tranh của các sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp phản ánh tập trung và hội tụ các yếu tố khác quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Để có hàng hóa, dịch vụ có chất lượng cao, giá rẻ, doanh nghiệp phải tổ chức sản xuất và tiêu thụ hiệu quả sao cho không lãng phí ở bất cứ khâu nào, sao cho công nghệ của doanh nghiệp luôn ở thế hệ hiện đại nhất. Đồng thời, doanh nghiệp phải có khả năng tự đổi mới, biết tìm và đưa ra các sản phẩm, công nghệ mới. Muốn vậy, phải đầu tư cho công nghệ, cho con người để họ lao động sáng tạo và có năng suất cao. Ngoài ra, doanh nghiệp còn cần có tiềm lực tài chính để đương đầu với các doanh nghiệp cạnh tranh, phải có đủ thông minh để dàn xếp quan hệ đối tác và quan hệ với Nhà nước sao cho không chỉ sức mạnh kinh tế mà uy tín của doanh nghiệp cũng không ngừng tăng lên.

Ngoài ra, sức cạnh tranh so sánh giữa doanh nghiệp nước này, địa phương này với doanh nghiệp nước khác, các địa phương khác…còn phụ thuộc vào sự thuận lợi hay không thuận lợi của kết cấu hạ tầng, và các chi phí trung gian, vào sự dễ hay khó có được các dịch vụ công với các chi phí thấp. Nói cách khác, môi trường kinh doanh cũng ảnh hưởng lớn đến sức cạnh tranh của DN, nhất là môi trường tài chính và môi trường luật pháp”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ