CHƯƠNG 1. NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH DỊCH VỤ THẺ THANH TOÁN ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Khái quát về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại. Khái niệm và các nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng thương mại.
- Khái niệm ngân hàng thương mại. Ngân hàng Thương mại là tổ chức tài chính tiền gửi và cho vay tiền. Hoặc NHTM là nơi trực tiếp giao dịch với công chúng để nhận ký thác, cho vay và cung ứng những dịch vụ tài chính. Ngoài ra Luật các Tổ chức tín dụng (công bố ngày 26/12/1997) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các Tổ chức tín dụng (có hiệu lực thi hành ngày 01/10/2004) cho rằng "Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gởi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán, và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan".
Như vậy, NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh về tiền tệ với hoạt động thường xuyên là huy động vốn, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, cung cấp các dịch vụ tài chính và các hoạt động khác có liên quan. NHTM là tổ chức tài chính trung gian cung cấp danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất. Các nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại. Ngân hàng Thương mại hiện đại hoạt động với ba nghiệp vụ chính đó là: nghiệp vụ huy động vốn, nghiệp vụ sử dụng vốn và các nghiệp vụ trung gian khác.
Ba nghiệp vụ này có quan hệ mật thiết, tác động hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát triển, tạo nên uy tín và thế mạnh cạnh tranh cho các ngân hàng thương mại, các nghiệp vụ này đan xem lẫn nhau trong quá trình hoạt động của ngân hàng thương mại, tạo nên một chỉnh thể thống nhất trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. Nghiệp vụ huy động vốn phản ánh quá trình hình thành vốn cho hoạt động kinh doanh của NHTM, cụ thể bao gồm các nghiệp vụ sau: nghiệp vụ tiền gửi, nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá, nghiệp vụ đi vay, nhận làm đại lý hay uỷ thác vốn cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, Vốn chủ sở hữu …. Luan van 10 Nghiệp vụ sử dụng vốn là nghiệp vụ phản ánh quá trình sử dụng vốn của NHTM vào các mục đích khác nhau nhằm đảm bảo an toàn kinh doanh cũng như tìm kiếm lợi nhuận. Nghiệp vụ sử dụng vốn gồm nghiệp vụ ngân quỹ, nghiệp vụ cho vay, Nghiệp vụ đầu tư tài chính, kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc và kim khí, đá quý; thực hiện các dịch vụ tư vấn, dịch vụ ngân quỹ; nghiệp vụ uỷ thác và đại lý; king doanh và dịch vụ bảo hiểm.
Nghiệp vụ trung gian khác như : dich vụ trong thanh toán, dịch vụ tư vấn, môi giới: Ngân hàng đứng ra làm trung gian mua bán chứng khoán, tư vấn cho người đầu tư mua bán chứng khoán, bất động sản., và các dịch vụ khác như quản lý hộ tài sản; giữ hộ vàng, tiền; cho thuê két sắt, bảo mật. Khái niệm và các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại. - Khái niệm năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại. - Cạnh tranh gắn liền với hành vi của chủ thể như hành vi của doanh nghiệp kinh doanh, của cá nhân kinh doanh và của một nền kinh tế.
Trong quá trình cạnh tranh với nhau, để dành lợi thế về phía mình các chủ thể phải áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp nhằm duy trì và phát triển vị thế của mình trên thị trường. Các biện pháp này thể hiện một sức mạnh nào đó của chủ thế, được gọi là NLCT hay sức cạnh tranh hoặc khả năng cạnh tranh của chủ thể đó. Khi muốn chỉ một sức mạnh một khả năng duy trì được vị trí của hàng hóa nào đó trên thị trường người ta dung thuật ngữ “ sức cạnh tranh của hàng hóa” hoặc ‘ năng lực cạnh tranh của hàng hóa”. Đó cũng chính là chỉ mức độ hấp dẫn của hàng hóa đó với khách hàng.
Hiện nay các thuật ngữ “sức cạnh tranh”, “ năng lực cạnh tranh” và “ khả năng cạnh tranh” được sử dụng nhiều ở Việt Nam, trong khi thông dụng trong tiếng anh được sử dụng là “ competitiveness”, cho nên chúng cùng chung một nghĩa và có thể dung thay thế cho nhau. TS Nguyễn Bách Khoa trình bày trong bài viết: “Phương pháp luận văn xác định NLCT và hội nhập kinh tế của DN” được đăng trên tạp chí khoa học thương mại của Trường Đại học Thương Mại thì NLCT của DN được hiểu là: tích hợp các khả năng và nguồn nội lực để duy trì và phát triển thị phần, lợi nhuận và Luan van 11 định vị những ưu thế cạnh tranh của sản phẩm của DN trong mối quan hệ với đối thủ cạnh tranh trực tiếp và tiềm tàng trên một thị trường mục tiêu xác định. Từ đặc điểm của ngân hàng thương mại và trên cơ sở khái niệm chung về năng lực cạnh tranh doanh nghiệp của Giáo sư Nguyễn Bách Khoa cho phép tác giả nêu khái niệm năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại là “tích hợp các khả năng và nguồn nội lực để nắm giữ và nâng cao thị phần lợi nhuận của ngân hàng thương mại và định vị những ưu thế cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh các dịch vụ ngân hàng so với các đối thủ cạnh tranh trên một thị trường mục tiêu ở một khoản thời gian xác định”. Về thực chất năng lực cạnh tranh của ngân hàng là khả năng ngân hàng tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững.
Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại được tạo lập từ Các yếu tố cấu thành gồm năng lực, nguồn lực và năng lực hoạt động của ngân hàng. Trong đó năng lực về nguồn lực là năng lực tài chính; năng lực về nhân sự; năng lực về sản xuất cung ứng dịch vụ, năng lực về nguồn lực vật chất; uy tín và hình ảnh của ngân hàng; năng lực hoạt động là kỹ năng và kinh nghiệm của ngân hàng; năng lực tổ chức quản lý và lãnh đạo kinh doanh, năng lực xây dựng và tổ chức vận hành kinh doanh của ngân hàng trên thị trường so tương quan với các đối thủ cạnh tranh đang cùng kinh doanh trên thị trường, 1. Các yếu tố cấu thành và tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh dịch vụ thẻ thanh toán với khách hàng cá nhân của NHTM. Khái niệm dich vụ thẻ thanh toán và năng lực cạnh tranh dịch vụ thẻ thanh toán với khách hàng cá nhân.
Khái niệm dịch vụ thanh toán và phân loại dịch vụ thanh toán của ngân hàng thương mại. Dịch vụ thanh toán của ngân hàng là dịch vụ mà NHTM cung cấp cho khách hàng để thực hiện quyền nhận chi trả hoặc/và nghĩa vụ phải chi trả trong các giao dịch có liên quan đến tiền tệ, theo đó ngân hàng sẽ đại diện cho khách hàng thực hiện nghĩa vụ chi trả thay; thực hiện quyền được chi trả; hoặc là trung gian chi trả cho các chủ thể trong quan hệ kinh tế. Luan van 12 Các dịch vụ thanh toán của ngân hàng thương mại bao gồm: Dịch vụ thanh toán qua tiền mặt, séc, hối phiếu, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, thư tín dụng, thẻ thanh toán: - Tiền mặt: tiền được hiểu là tiền mặt (Curency) bao gồm tiền giấy (Paper money) tiền kim loại (Coin) là những loại tiền pháp định do Ngân hàng nhà nước phát hành và được Pháp luật đảm bảo cho khả năng chi trả trong các giao dịch có liên quan đến tiền tệ. - Séc (cheque) Theo Công ước Geneva năm 1931: “Séc là một lệnh trả tiền vô điều kiện do một khách hàng của ngân hàng ra lệnh cho ngân hàng trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình ở ngân hàng đó để trả cho người cầm séc hoặc cho người được chỉ định trên séc.
- Hối phiếu: hối phiếu là một lệnh trả tiền vô điều kiện được lập bằng văn bản do một người (gọi là người ký phát) gửi đến một người khác yêu cầu người này khi nhìn thấy hối phiếu phải trả tiền ngay hoặc đến một ngày cụ thể hoặc đến một ngày có thể xác định được trong tương lai phải trả một số tiền nhất định cho người có tên trên tờ phiếu hoặc theo lệnh của người này hoặc cho người cầm phiếu. Thẻ thanh toán ngân hàng: Thẻ thanh toán là phương thức ghi sổ những số tiền cần thanh toán thông qua máy đọc thẻ phối hợp với hệ thống mạng máy tính kết nối giữa Ngân hàng/ Tổ chức tài chính với các điểm thanh toán (Merchant). Nó cho phép thực hiện thanh toán nhanh chóng, thuận lợi và an toàn đối với các thành phần tham gia thanh toán. Thẻ thanh toán ngân hàng hay còn gọi là “tiền nhựa” hay “chiếc ví điện tử” là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt do NH và các tổ chức tài chính phát hành và cung cấp cho KH (gọi là chủ thẻ) sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ tại trong phạm vi số dư của mình ở tài khoản tiền gửi hoặc theo hạn mức tín dụng được cấp theo hợp đồng đã kí kết giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ.
- Ủy nhiệm chi: Là phương tiện thanh toán mà người trả tiền lập ra dưới dạng lệnh thanh toán theo mẫu do tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán quy định, gửi cho tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán nơi mình mở tài khoản yêu cầu tổ chức đó trích một số tiền nhất định trên tài khoản của mình để trả cho người thụ hưởng Luan van 13 - Ủy nhiệm thu Uỷ nhiệm thu hoặc nhờ thu: là phương tiện thanh toán mà người thụ hưởng lập lệnh thanh toán theo mẫu do tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán quy định, gửi cho tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán uỷ thác thu hộ mình một số tiền nhất định.