Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng: Chƣơng 1:Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong đấu thầu xây dựng. Chƣơng 2:Phƣơng pháp nghiên cứu và thiết kế luận văn. Chƣơng 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của Công Ty Cổ Phần Xây Dựng Bảo Tàng Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2011- 2015. Chƣơng 4: Các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh đấu thầu xây dựng của Công Ty Cổ Phần Xây Dựng Bảo Tàng Hồ Chí Minh.
3 CHƢƠNG 1–TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xâydựng Nâng cao năng lực cạnh tranh là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp vì nó quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Liên quan đến đề tài nghiên cứu đã có nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu đã đƣợc công bố nhƣ: - Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thuộc Tổng Công ty Bƣu chính viễn thông trên địa bàn Thành phổ Hồ Chỉ Minh - thực trạng và giải pháp - Luận văn Thạc sĩcủa Trương Hoài Trang, Hà Nội, 2005. - Một sổ giải pháp nhằm tăng cƣờng năng lực cạnh tranh của hệ thống Ngần hàng Công thƣơng Việt Nam - luận văn Thạc sĩ của Phan Lê Mai Linh, Đà Nẵng, 2003.
- Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH hệ thống thông tin FPT trogng điều kiện hội nhập quốc tế - luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Minh Tuấn, Hà - Giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng Nhà nƣớc ở Việt Nam - luận án Tiến sỹ kinh tế của Nguyễn Tiến Triển. - Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa, nghiên cứu trên địa bàn thành phố Hà Nội- luận án Tiến sỹ kinh tế của Phạm Thu Hương, Hà Nội 2017. - Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu vào thị trƣờng các nƣớc EU của doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong giai đoạn hiện nay- luận án Tiến sỹ kinh tế của Nguyễn Hoàng, Hà Nội 2009. - Nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp thƣơng mại vừa và nhỏ Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế - Đề tài nghiên cứu khoa học của TS.
Lưu Khánh Cường, Hà Nội. - Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp thƣơng mại Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế - Tiến sỹ Nguyễn Vĩnh Thanh, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội. 4 - Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia - Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ƣơng (CIEM) và cơ quan phát triển Liên họrp quốc (UNDP) - Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội. Trong công tác đấu thầu xây dựng nói riêng thì cũng có những công trình nghiên cứu đã đƣợc công bố nhƣ: - Giải pháp nâng cao năng lực đấu thầu của Công ty cổ phần xây lắp bƣu điện Hà Nội - Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Thanh Huyền, Hà Nội, 2011 - Nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của Công ty Xây dựng công trình 545 – Luận văn Thạc sĩ của Ngô Tấn Hưng, Đà Nẵng, 2006.
- Nâng cao năng lực cạnh tranh đấu thầu xây dựng của công ty cổ phần xây dựng thủy lợi 1- Luận văn Thạc sĩ của Ngô Thanh Tùng, Thái Nguyên, 2013. - Đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh đấu thầu xây dựng của Tổng Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam – Luận văn Thạc sĩ của Lê Văn Hưng, Hà Nội, 2014. Khái luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong đấu thầu xây dựng 1. Quan niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp * Quan niệm về cạnh tranh Theo tiến trình của lịch sử các học thuyết kinh tế, các học giả cũng đã đƣa ra rất nhiều quan niệm về cạnh tranh.
Trong tác phẩm “Quốc phú luận” của Adam Smith, tác giả đã cho rằng cạnh tranh có thể phối họp kinh tế một cách nhịp nhàng, có lợi cho xã hội. Theo Smith, “nếu tự do cạnh tranh, các cá nhân chèn ép nhau, thì cạnh tranh buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm công việc của mình một cách chính xác”, “cạnh tranh và thi đua thƣờng tạo ra sự cố gắng lớn nhất. Ngƣợc lại, chỉ có mục đích lớn lao nhƣng lại không có động cơ thúc đẩy thực hiện mục đích ấy thì rất ít có khả năng tạo ra đƣợc bất kỳ sự cố gắng lớn nào” (Adam Smith, 1997, tr. Adam Smith lấy chủ nghĩa cá 5 nhân làm cơ sở để sáng lập ra hệ thống lý luận kinh tế học theo chủ nghĩa tự do.
Ông cho rằng con ngƣời chạy theo lợi ích cá nhân, nhƣng lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội lại thống nhất với nhau. Smith chủ trƣơng tự do cạnh tranh, ông cho rằng thông qua cạnh tranh mà các hoạt động kinh tế có thể phối họp một cách nhịp nhàng và thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Tự do cạnh tranh thúc đẩy con ngƣời nổ lực hơn, sáng tạo, tăng năng suất lao động, làm cho quá trình của cải của quốc gia tăng lên, cạnh tranh chủ yếu diễn ra thông qua thị trƣờng và gía cả, do đó cạnh tranh có quan hệ chặt chẽ với thị trƣờng và tự do cạnh tranh cổ thể tự điều tiết các quan hệ cung - cầu, sản lƣợng, phân công lao động, tạo sự cân bằng cung cầu xã hội mà không cần sự can thiệp của Nhà nƣớc. Cùng suy nghĩ với Adam Smith, Mill cho rằng cạnh tranh là cần thiết để thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
Mill đề cao tự do cá nhân, nhƣng lại cho rằng xã hội có quyền sử dụng vũ lực để ngăn ngừa cá nhân gây ra hậu quả xấu. Theo Charles Robert Darwin, nhà sinh vật học ngƣời Anh mô tả cạnh tranh trong giới sinh vật là quá trình sinh vật không ngừng thích ứng với môi trƣờng bên ngoài để tồn tại. Không có cạnh tranh thì không có tiến hoá của toàn bộ các loài, trong đó có cả loài ngƣời. Vận dụng nguyên lý của Darwin vào nền kinh tế thị trƣờng cho thấy rằng cồng ty nào hoặc sản phẩm nào thích hợp với quá trình phát triển thì mới tồn tại đƣợc, kẻ yếu bị xua đuổi.
Quan điểm cạnh hanh của ông là chuyển từ cạnh tranh đối kháng sang cạnh tranh hợp tác. Quan điểm này phù hợp với xu thế kinh tế hiện nay: nhiều Công ty kết họp với nhau thành các tập đoàn đa quốc gia, cùng thiết lập quy tắc cạnh tranh mới, xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật và hợp tác để cùng tồn tại và phát triển. Trong lý luận cạnh tranh của mình, trọng điểm nghiên cứu của Các Mác những cuộc cạnh tranh này diễn ra dƣới ba góc độ: cạnh tranh giá thành thông qua nâng cao năng suất lao động giữa các nhà tƣ bản nhằm thu đƣợc giá trị thặng dƣ siêu ngạch; cạnh tranh chất lƣợng thông qua nâng cao giá trị sử dụng hàng hoá, hoàn thiện chất lƣợng hàng hoá để thực hiện đƣợc giá trị hàng hoá; cạnh tranh giữa 6 các ngành thông qua việc gia tăng tính lƣu động của tƣ bản nhằm chia nhau giá trị thặng dƣ. Ba góc độ cạnh tranh cơ bản này diễn ra xoay quanh sự quyết định giá trị, sự thực hiện giá trị và sự phân phối giá tậ thặng dƣ, chúng tạo nên nội dung cơ bản trong lý luận cạnh tranh của Các Mác.
Đến nửa cuối thế kỷ XIX, các nhà kinh tế học thuộc trƣờng phái cổ điển mới xây dựng lý luận cạnh tranh trên cơ sở tổng kết sự phát triển lý luận kinh tế ở nửa đàu thế kỷ ấy nhằm vạch ra nguyên lý cơ bản về sự vận động của chế độ tƣ bản chủ nghĩa để chỉ đạo cạnh tranh, kết quà là họ đã cho ra đời tƣ tƣởng về thể chế kinh tế cạnh tranh hoàn hảo, lấy thị trƣờng tự do hoặc chế độ trao đổi làm cốt lõi. Cạnh tranh hoàn hảo là một trong những giả thiết cơ bản của lý luận kinh tế này. Trong kinh tế học cổ điển mới, thị trƣờng đƣợc giả định là thị trƣờng không có độc quyền, tự động giữ đƣợc cân đối, những ngƣời tham gia thị trƣờng cũng đƣợc giả định là có đầy đủ thông tin nhƣ nhau. Trong nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo, ngƣời sản xuất phải bố trí sản xuất theo thị hiéu của ngƣời tiêu dùng, còn ngƣời tiêu dùng phải chọn lựa hàng hoá và dịch vụ bằng hình thức tiền tệ.
Ngƣợc với tƣ tƣởng xem cạnh tranh là một quá trình tĩnh của các nhà kinh tế học thuộc trƣờng phái cổ điển mới của thế kỷ XIX, các nhà kinh tế học của trƣờng phái Áo cho rằng: “Một chỉ tiêu quan trọng về sự ra đời của lý luận cạnh tranh hiện đại là vứt bỏ việc lấy cạnh tranh hoàn hảo làm giáo điều của mô hình cạnh tranh hiện thực và lý tƣởng, cạnh hanh đƣợc xem xét ở góc độ là một quá trình động, phát triển chứ không phải là quá trình tình. Tƣơng ứng với điều này, đối tƣợng nghiên cứu trọng điểm cũng không còn là giá cả đƣợc quyết định nhƣ thế nào trên tiền đề đã định sẵn và phải thích ứng với kết cấu hiện có nhƣ thế nào để thực hiện đƣợc sự cân đối kinh tế, mà là hình thức kết hợp các yếu tố cạnh tranh trong quá trình cạnh tranh thực tế thực hiện đƣợc tiến bộ và sáng tạo kỹ thuật. Nhƣ vậy thì lý luận cạnh tranh mói là môn lý luận độc lập với lý luận giá cả” (Trần Sửu, 2006, trang 56). Quan điểm của David Ricardo cũng đề cao tự do canh tranh, đặc biệt là tƣ tƣởng về lợi thế so sánh.
Mỗi quốc gia, mỗi ngành có những lợi thế về tài nguyên 7 khác nhau, công nghệ khác nhau do đó có thể sản xuất và bán những sản phẩm mà mình có lợi thế hơn và thông qua ngoại thƣơng nhập những mặt hàng mà mình kém ƣu thế hơn. Adam Smith và David Ricardo chỉ rõ gía trị và giá trị sử dựng của hàng hoá và chính hai yếu tố này quyết định năng lực cạnh tranh của hàng hoá. Nhƣ vậy, cạnh tranh là một công cụ mạnh mẽ và là một yêu cầu tất yếu cho sự phát triển kinh tế của mỗi doanh nghiệp và mỗi quốc gia. Cạnh tranh giúp khai thác một cách hiệu quả nguồn lực thiên nhiên và tạo ra các phƣơng tiện mới để thoả mãn nhu cầu cá nhân ở mức giá thấp hơn và chất lƣợng cao hơn, từ đó, nâng cao đƣợc đời sống vật chất và tinh thần của con ngƣời.