MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam là quốc gia có lợi thế và tiềm năng về điều kiện tự nhiên đất đai, khí hậu, tài nguyên để phát triển nông nghiệp. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực dồi dào cũng góp phần tạo nên sự phát triển và sản xuất nhiều loại nông sản có giá trị cao. Tính đến đầu năm 2019, Liên Hợp Quốc đã thống kê dân số hiện tại của Việt Nam là 96.926 người với độ tuổi trung bình là 31.
Trong đó, 35,92% dân số sống ở thành thị (34.961 người vào năm 2018), như vậy gần 2/3 dân số Việt Nam là tập trung ở vùng nông thôn – nơi đây phát triển chủ yếu là ngành nông nghiệp. Nông sản là nguồn được xuất khẩu nhiều và đem lại thu nhập ngoại tệ lớn cho đất nước. Nông nghiệp đem lại việc làm và cuộc sống ổn định cho người dân sống ở khu vực nông thôn. Một mặt hàng phát triển sẽ kéo theo rất nhiều ngành hỗ trợ phát triển theo.
Nông sản Việt Nam rất đa dạng và phong phú, việc xuất khẩu nông sản đem lại rất nhiều lợi ích cho đất nước. Chúng ta có thể phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ chế biến nông phẩm, các ngành về phân bón, … góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Ngoài ra, trao đổi hàng hóa là động lực thúc đẩy mối quan hệ thương mại, gắn kết thương mại, công nghệ sản xuất giữa Việt Nam và các quốc gia khác. Tuy nhiên, các mặt hàng nông sản của Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn khi xuất khẩu ra thị trường thế giới về giá cả, về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm.
Nhà nước cũng đã có nhiều chính sách hỗ trợ, bảo hộ các mặt hàng xuất khẩu chủ lực nhưng các doanh nghiệp vẫn khặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng tới người nông dân. Hiện nay, cây thanh long đã là một loại cây trồng đem lại nguồn thu nhập chính cho đa số hộ nông dân, đặc biệt là nông dân tỉnh Bình Thuận. Ngày 15/11/2006 Cục Sở hữu trí tuệ đã ban hành Quyết định số 786/QĐ-SHTT đăng bạ tên gọi xuất xứ hàng hóa “Bình Thuận” (chỉ dẫn địa lý) dùng cho quả thanh long, thanh long tại xvi tỉnh Bình Thuận được nhà nước bảo hộ vô thời hạn trên phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam và UBND tỉnh Bình Thuận là cơ quan quản lý tên gọi xuất xứ hàng hóa. Cây thanh long mang lại hiệu quả kinh tế cao, thu nhập cao cho người dân nên dần dần được phát triển và mở rộng.
Thanh long được trồng tại nhiều quốc gia trên thế giới như Thái Lan, Đài Loan, … và các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á. Tại Việt Nam, thanh long được trồng rộng rãi trên cả nước ở khoảng 32 tỉnh, thành phố rải rác trên lãnh thổ. Trong đó, sản lượng thanh long của Bình Thuận chiếm hơn 86% tổng sản lượng thanh long của các tỉnh thành. Thanh long được trồng ở tỉnh Bình Thuận đã được nhà nước đăng ký thương hiệu trên toàn thế giới, điều này thể hiện thanh long Bình Thuận đã có được danh tiếng, chỗ đứng về chất lượng và hương vị trên thế giới.
Tuy nhiên, có khá nhiều khu vực đã trồng thanh long cả trong và ngoài nước, nên việc cạnh tranh là không thể tránh khỏi. Theo Tổng cục Hải quan, các tháng đầu năm 2018, Tổng giá trị xuất khẩu của rau – củ – quả của Việt Nam chiếm đa số là thanh long, nhãn, xoài. Trong đó, thanh long chiếm 32% tổng giá trị xuất khẩu, gấp khoản 4 lần so với nhãn (121 triệu USD) và xoài (104 triệu USD). Trong đó, Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam.
82 – 83% sản lượng còn lại xuất theo con đường "tiểu ngạch" sang thị trường Trung Quốc. Việc xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc này mặc dù có ưu điểm là thủ tục giao hàng và thanh toán dễ dàng, phù hợp cho nhiều hộ kinh doanh nhỏ lẻ, song giá bán bấp bênh. Bình Thuận với diện tích trồng thanh long lớn nhất trong cả nước và tỷ lệ người nông dân phụ thuộc vào cây thanh long cũng lớn nhất trong cả nước nên sẽ chịu nhiều tác động nếu có bất kỳ biến động trong thị trường thanh long. Việc hội nhập kinh tế, Việt Nam gia nhập nhiều vào các tổ chức thương mại thế giới, thị trường tiêu thụ được mở rộng.
Việt Nam chính thức gia nhập WTO từ năm 2007, các ngành kinh tế của chúng ta đã được phát triển vượt trội, trong đó có xuất khẩu nông sản. Việt Nam được biết là một nền nông nghiệp phát triển nhiều loại trái cây. Thanh long của tỉnh Bình Thuận là một trong các loại trái cây phát triển nổi bậc của tỉnh Bình Thuận nói riêng và Việt Nam nói chung. Đây là loại trái cây được ưu xvii chuộng ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở châu Á.
Thị trường tiêu thụ chính là các quốc gia châu Á, chủ yếu là Trung Quốc. Do đó, chúng ta cần nhìn lại thực tế thanh long của tỉnh Bình Thuận và có những biện pháp nhằm nâng cao giá trị xuất khẩu quả thanh long hơn nữa khi mà Việt Nam đã là thành viên của nhiều tổ chức kinh tế. Quả thanh long cần phải đạt những chỉ tiêu gì để đẩy mạnh tiêu thụ trên thị trường và thu hút được người tiêu dùng. Những năm gần đây Việt Nam đã rất tích cực tham gia vào các hoạt động thương mại kinh tế quốc tế.
Những hoạt động này thúc đẩy vị thế của Việt Nam ta trên thương trường quốc tế. Ngày 5/11/2016, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị – xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới. Đây là nghị quyết lấy hội nhập về kinh tế quốc tế làm đầu, với sự tham gia của toàn dân đặc biệt là lực lượng lao động tri thức để học hỏi, tiếp thu các kiến thức mới phát triển đất nước. Việc thu mua quả thanh long chủ yếu là do tư nhân đứng ra phụ trách, nên khó tránh khỏi việc thao túng thị trường, đẩy giá của quả thanh long tại địa phương xuống thấp.
Thanh long được trồng nhiều tại các địa phương khác nên người tiêu dùng có rất nhiều sự lựa chọn. Bên cạnh đó, ngày nay các địa phương khác cũng đã có nhiều cải cách nhằm nâng cao chất lượng quả thanh long nên việc cạnh tranh trong thị trường giữa quả thanh long Bình Thuận với các địa phương trồng thanh long tại Việt Nam và tại các quốc gia khác ngày càng diễn ra gay gắt và khốc liệt. Thanh long Bình Thuận đang dần mất đi thị thế trên thị trường nếu như không có các biện pháp cải tiến về chất lượng, về bảo quản, về giá cả, … Đó là các cơ hội và thách thức mà người nông dân trồng thanh long cả nước nói chung và tại Bình Thuận nói riêng đang đối mặt. Vì vậy đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của thanh long Bình Thuận trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế” được thực hiện nhằm giải quyết và phát triển đầu ra cho quả thanh long tại Bình Thuận.
Các công trình nghiên cứu có liên quan xviii Nhiều tác giả đã có các công trình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của các loại trái cây, trong đó có thanh long từ trước đến nay. Bài viết có kế thừa và phát triển dựa trên các báo cáo, văn bản, luận văn khác có cùng chủ đề nghiên cứu: a. Các luận án nghiên cứu - Nguyễn Viết Bằng, (2015), “Các thành phần tài sản thương hiệu trái cây tươi tại thị trường Việt Nam: trường hợp thanh long Bình Thuận”, Luận án Tiến sĩ kinh tế. Nội dung: Tác giả đã khám phá và phân tích các thành phần tài sản thương hiệu thanh long Bình Thuận.
Các thành phần bao gồm: nhận biết thương hiệu, liên tưởng thương hiệu, chất lượng cảm nhận, long trung thành thương hiệu và an toàn cảm nhận. Ở đề tài này, tác giả đã nhấn mạnh tác động của thương hiệu đến khả năng thu hút người tiêu dùng. Người tiêu dùng tin tưởng và yêu thích sử dụng thanh long Bình Thuận khi họ nhận biết được những đặc điểm nổi trội thông qua hình dáng, màu sắc, hương vị, logo so với những thanh long ở các địa phương khác. Khi người tiêu dùng trung thành với thanh long Bình Thuận sẽ gia tăng tình cảm và ý định lựa chọn thanh long Bình Thuận thay vì các loại thanh long khác.
Có thể kết luận rằng: Phát triển thương hiệu chính là nâng cao khả năng cạnh tranh của thanh long Bình Thuận trong giai đoạn hiện nay. - Nguyễn Thị Phương Nhung, (2014), “Khả năng cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam trong những năm qua và giải pháp thúc đẩy khả năng cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam đến năm 2020”, Báo cáo thực hành nghề nghiệp lần 2. Nội dung: đề tài tập trung chủ yếu vào phân tích năng lực và khả năng cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam trên các thị trường quốc tế. Tác giả đã hệ thống những lý luận chung về cạnh tranh và sức cạnh tranh của mặt hàng nông sản.
Tác giả phân tích, đánh giá điểm mạnh điểm yếu của một số mặt hàng nông sản thiết yếu trong giai đoạn hiện tại để có những giải pháp phát triển khả năng cạnh tranh đến năm 2020. Những mặt hàng đó là: gạo, chè, cà phê, hồ tiêu, cao su. Dựa vào những đánh giá của tác giả về đặc điểm thị trường nông sản trên thế giới cũng như khả năng cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam, tôi áp dụng các đặc điểm này vào thanh xix long Bình Thuận trong bài viết này nhằm phát triển khả năng cạnh tranh của thanh long Bình Thuận. - Ninh Đức Hùng, (2013), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trái cây Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ kinh tế.
Nội dung: Ở luận án này, tác giả đã thể hiện được năng lực cạnh tranh của ngành trái cây là tổng hoà năng lực cạnh tranh của sản phẩm, của tổ chức kinh tế tham gia sản xuất, chế biến và thương mại sản phẩm trái cây và năng lực cạnh tranh của địa phương trong việc cung cấp các dịch vụ công và hành chính công cho các tổ chức kinh tế sản xuất kinh doanh trái cây.