Chương 1: Một số vấn đề chung về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của sản phẩm Chương 2: Đánh giá năng lực cạnh tranh của mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam 8 Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM 1. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm 1. Khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của sản phẩm 1. Khái niệm cạnh tranh Cạnh tranh là khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Trong kinh tế, hiện tượng cạnh tranh xuất hiện đồng thời với sự ra đời và phát triển của nền sản xuất hàng hoá. Tuy nhiên, ở giai đoạn phát triển ban đầu của nền sản xuất hàng hoá, cạnh tranh chưa được nhận biết và xem xét một cách đầy đủ ở mọi khía cạnh. Chỉ đến khi các khái niệm giá trị, giá bán được nghiên cứu một cách khoa học, khi đó vấn đề cạnh tranh mới được hiểu đầy đủ hơn và vai trò của nó trong nền kinh tế được đánh giá đúng hơn. Cùng với quá trình phát triển của tư duy kinh tế, lý thuyết cạnh tranh cũng ngày càng được hoàn thiện hơn.
Adam Smith là người đầu tiên đưa ra lý thuyết tương đối hoàn chỉnh về cạnh tranh. Luận thuyết của ông dựa trên ý tưởng về vai trò của "bàn tay vô hình" trong việc điều chỉnh biến động của giá thị trường (điều chỉnh giá bên cung và giá bên cầu) và được thể hiện rõ nét qua mô hình cạnh tranh 1 hoàn hảo. Trong môi trường cạnh tranh hoàn hảo mục tiêu của doanh nghiệp, người tiêu dùng là tối đa hoá lợi nhuận, sự tiện ích của mình, thị trường sẽ phân bổ tối ưu các nguồn lực khan hiếm theo nghĩa, không thể có cách phân bổ khác có lợi hơn cho ai đó trong xã hội mà không làm hại đến người nào khác. Tuy nhiên, trong 1 Mô hình cạnh tranh hoàn hảo dựa trên các giả thiết: 1.
Không có người bán, người mua khống chế được giá cả; 2.Sự nhập cuộc hay rút lui khỏi thị trường là tự do; 3. Người mua, người bán có thể tiếp cận đầy đủ thông tin để ra quyết định sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của mình. Mô hình cạnh tranh hoàn hảo thể hiện rõ nhất vai trò của “bàn tay vô hình”. 9 thực tế, hầu như không tồn tại tất cả những giả thuyết về nhân tố hoàn hảo của thị trường.
Mô hình cạnh tranh hoàn hảo gần như không tưởng. Vào đầu những năm 20 của thế kỷ 20, các nhà kinh tế Mỹ và Anh đã đưa ra những nghiên cứu đầy đủ hơn về cạnh tranh - Mô hình cạnh tranh không hoàn hảo hay cạnh tranh mang tính độc quyền. Trọng tâm của những nghiên cứu này là đề cập đến những hàng hoá có quan hệ thay thế, đến vấn đề độc quyền nhóm và bổ xung những hình thức cạnh tranh không bằng giá (cạnh tranh qua kênh phân phối, qua quảng cáo,. Cạnh tranh mang tính độc quyền, theo nghĩa rộng, là cạnh tranh giữa nhiều đơn vị cung với những hàng hoá khác biệt cạnh tranh lẫn nhau trên thị trường.
Nhà kinh tế học Mỹ John Maurise Clack vào đầu những năm 40 của thế kỷ 20 đã đưa ra luận điểm: những nhân tố không hoàn hảo trên thị trường có thể được sửa chữa bằng những nhân tố không hoàn hảo khác. Chẳng hạn, tính không hoàn hảo do có ít người cung ứng trên thị trường (hình thái thị trường độc quyền nhóm) sẽ được cải thiện phần nào nhờ nhân tố không hoàn hảo khác như thiếu sự tường minh của thị trường và tính tạp chủng của hàng hoá. Clack đã tiếp thu luận điểm của Schumpeter - cạnh tranh phải bằng sản phẩm mới, bằng kỹ thuật mới, bằng nguồn cung ứng mới và bằng hình thức tổ chức mới - để xây dựng lý thuyết cạnh tranh hiệu quả. Theo đó, siêu lợi nhuận mà các doanh nghiệp tiên phong đạt được trên cơ sở lợi thế nhất thời vừa là hệ quả, vừa là tiền đề của cạnh tranh.
Lợi nhuận này không nên xoá bỏ ngay lập tức mà chỉ nên giảm dần để doanh nghiệp có thể có điều kiện thời gian tạo ra một sự đổi mới, cải tiến khác. Nhìn chung, sự phát triển của cạnh tranh trong lĩnh vực kinh tế là sự phát triển của một quá trình. Quá trình đó gắn liền với quá trình phát triển của nền kinh tế thị trường. Sự phát triển các lý thuyết về cạnh tranh thể hiện quá trình nhận thức về cạnh tranh theo sự phát triển của các hình thái thị trường.
Những nghiên cứu về cạnh tranh đều cho thấy, mặc dù, cạnh tranh có thể đưa lại lợi ích cho người này và thiệt hại cho người khác, nhưng rõ ràng xét dưới góc độ hiệu quả, quá trình cạnh 10 tranh mang lại tổng số lợi ích luôn lớn hơn tổng số thiệt hại. Vì vậy, có thể nói rằng, cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản và là động lực phát triển của nền kinh tế thị trường. Không có cạnh tranh thì không có kinh tế thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, quá trình cạnh tranh cũng luôn được thúc đẩy phát triển bởi các đối tượng tham gia cạnh tranh trên thị trường luôn tìm cách nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trước các đối thủ khác nhằm đạt được vị thế cao hơn trên thị trường.
Khái niệm năng lực cạnh tranh của sản phẩm Năng lực cạnh tranh của một loại sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ nào đó trên thị trường trong nước và quốc tế là sự thể hiện tính ưu việt hay tính hơn hẳn của nó cả về định tính và định lượng với các chỉ tiêu như: Chất lượng sản phẩm, thương hiệu, mức độ vệ sinh công nghiệp hay vệ sinh thực phẩm; khối lượng và sự ổn định chất lượng của sản phẩm; kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm, môi trường thương mại, mức độ giao dịch và uy tín của sản phẩm trên thị trường, sự ổn định về môi trường kinh tế vĩ mô và chính sách thương mại như thuế, tỷ giá, tín dụng, mức độ bảo hộ và chỉ tiêu về giá thành và giá cả sản xuất. Cùng với quá trình phát triển và tăng trưởng của nền kinh tế thì các quan hệ thương mại cũng phát triển, theo đó diễn ra sự mở rộng thị trường trao đổi hàng hoá. Sự mở rộng trao đổi thương mại tác động trở lại sản xuất của mỗi nước theo cả hai chiều: Kích thích gia tăng khối lượng sản phẩm một số hàng hoá được thị trường chấp nhận (được người mua trả giá) và hạn chế sản xuất những mặt hàng mà thị trường không chấp nhận ( người mua không trả giá). Như vậy mỗi sản phẩm do từng nhà sản xuất đưa ra thị trường sẽ được người tiêu dùng phản ứng với mức độ cao thấp khác nhau.
Sự phản ứng của người tiêu dùng thể hiện qua việc mua hay không mua sản phẩm đó. Đây là biểu hiện tổng quát cuối cùng về sức cạnh tranh của sản phẩm đó. Nói cách khác, cạnh tranh giữa các sản phẩm trên một thị trường là quá trình thể hiện khả năng hấp dẫn người tiêu dùng của các sản phẩm đối với khách hàng 11 trên một thị trường cụ thể và trong một thời gian nhất định. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm có thể gắn với một doanh nghiệp, một quốc gia cụ thể hoặc xét chung cho tất cả các quốc gia, các doanh nghiệp.
Đối với một doanh nghiệp hoặc một ngành, một sản phẩm, năng lực cạnh tranh gắn với mục tiêu duy trì sự tồn tại và thu được lợi nhuận trên thị trường và nó được thể hiện bằng lợi thế cạnh tranh của sản phẩm. Tuy nhiên năng lực cạnh tranh quốc gia và năng lực cạnh tranh doanh nghiệp có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau. Một quốc gia hay một nền kinh tế có sức cạnh tranh tốt sẽ giúp cho doanh nghiệp tạo dựng được năng lực cạnh tranh tốt hơn trên thị trường thế giới. Nói cách khác, năng lực cạnh tranh quốc gia là một nguồn hình thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Khi các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh, nó sẽ góp phần vào việc nâng cao thu nhập và tác động tích cực đến môi trường cạnh tranh và do đó nó góp phần vào nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Phân loại năng lực cạnh tranh theo cấp độ 1. Khái niệm sức cạnh tranh xét từ phạm vi quốc gia Khái niệm về sức cạnh tranh ở tầm quốc gia, theo nghĩa rộng nhất, sức mạnh thể hiện trong hiệu quả kinh tế vĩ mô. Có nhiều khái niệm khác nhau về sức cạnh tranh của một quốc gia.
Có những khái niệm cho rằng, sức cạnh tranh của một quốc gia là khả năng đạt được và duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác (Diễn đàn kinh tế thế giới - WEF, 1997). Mặc dù khái niệm về sức cạnh tranh dựa trên tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia khá đơn giản, nhưng nó chỉ nói lên được khía cạnh tiền tệ của nền kinh tế mà không bao hàm được tất cả các khía cạnh về giá trị gia tăng, chẳng hạn sự tiến bộ về giáo dục, khoa học và công nghệ,. những vấn đề được coi là quan trọng đối với tiềm năng tăng trưởng dài hạn của một quốc gia. Đồng thời, nó cũng không phản ánh được nguyên nhân tạo ra sức cạnh tranh và kết quả của cạnh tranh.
(1985 & 1989) cho rằng "khái niệm có ý nghĩa nhất về năng lực cạnh tranh ở cấp quốc gia là năng suất lao động". Mở rộng khái niệm này thì tính cạnh tranh ở cấp quốc gia gần hơn với lý thuyết về lợi thế so sánh. Ngay như trong lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Ricardo, một quốc gia có khả năng cạnh tranh hơn các quốc gia khác bởi sự trội hơn về một hay một vài thuộc tính. Ông cho rằng, khả năng cạnh tranh của một nước là một hệ thống gồm nhiều yếu tố liên quan với nhau, có tác động qua lại và bổ xung cho nhau.
Các yếu tố này là nền móng, chỗ dựa cho các công ty, giữ vai trò quyết định, cho phép các công ty sáng tạo và duy trì lợi thế cạnh tranh trên một lĩnh vực cụ thể. Tuy nhiên, mọi yếu tố đều có thể thay đổi và do đó, sức cạnh tranh cũng có thể bị thay đổi.