CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1.Khái niệm cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh là yếu tố luôn gắn liền với nền kinh tế thị trường, có khá nhiều cách tiếp cận và quan điểm về cạnh tranh khác nhau. Thuật ngữ “cạnh tranh” có nguồn gốc từ tiếng La tinh với nghĩa chủ yếu là sự đấu tranh, ganh đua, thi đua giữa các đối tượng cùng phẩm chất, cùng loại, đồng giá trị nhằm đạt được những ưu thế, lợi ích, mục tiêu xác định. Cạnh tranh vừa là môi trường, vừa là động lực trong nền kinh tế thị trường.
Trong Văn kiện Đại hội VIII của Đảng cũng đã ghi rõ: “ Cơ chế thị trường đòi hỏi phải hình thành một môi trường cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp, văn minh. Cạnh tranh vì lợi ích phát triển đất nước, chứ không phải phá sản hàng loạt, lãng phí các nguồn lực, thôn tính lẫn nhau ( nguồn: Văn kiện đại hội VIII của Đảng- NXB chính trị quốc gia). Thuật ngữ “cạnh tranh” được dùng ở đây là cách gọi tắt của cụm từ cạnh tranh kinh tế, một dạng cụ thể của cạnh tranh. Cạnh tranh xuất hiện trong quá trình hình thành và phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa.
Do đó, hoạt động cạnh tranh gắn liền với sự tác động của các quy luật thị trường như quy luật giá trị, quy luật cung cầu. Theo các học giả trường phái tư sản cổ điển: “ Cạnh tranh là một quá trình bao gồm các hành vi phản ứng, quá trình này tạo ra cho mỗi thành viên trong thị trường dư địa hoạt động nhất định và mang lại cho mỗi thành viên một phần xứng đáng so với khả năng của mình”. Theo Các Mác: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thu hàng hóa để thu được lợi nhuận” Ta thấy có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh, kế thừa các quan niệm của các nhà nghiên cứu chúng ta có thể thấy rằng: Cạnh tranh là hành động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm, các loài vì mục đích giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợi nhuận, địa vị, sự kiêu hãnh, các phần thưởng hay những thứ khác. Thuật ngữ cạnh tranh được sử dụng cho nhiều lĩnh vực khác nhau như lĩnh vực kinh tế, thương mại, luật, chính trị, SVTH: Đinh Thị Thủy Lớp: K48A2 Luan van Khóa luận tốt nghiệp 7 GVHD: Th.S Đào Thị Phương Mai thể thao.
Cạnh tranh có thể là giữa hai hay nhiều lực lượng, hệ thống, cá nhân, nhóm, loài tùy theo nội dung mà thuật ngữ sử dụng. Cạnh tranh có thể dẫn đến các kết quả khác nhau. (nguồn:http://vi. Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đã định nghĩa về năng lực cạnh tranh cho cả doanh nghiệp, ngành và quốc gia như sau: “ Năng lực canh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh ”.
Năng lực cạnh tranh có thể được phân biệt thành 3 cấp độ: (1) Năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia. (2) Năng lực cạnh tranh cấp độ ngành/ sản phẩm, (3) Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Ba cấp độ có mối quan liên quan mật thiết với nhau, phụ thuộc lẫn nhau. Một mặt, tổng hợp năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp của một nước tạo thành năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia.
Mặt khác, năng lực cạnh tranh quốc gia thể hiện qua môi trường kinh doanh, cạnh tranh quốc tế và trong nước ( đặc biệt trong điều kiện hội nhập quốc tế). Trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận, em xin tập trung nghiên cứu và làm rõ vào khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Theo từ điển thuật ngữ kinh tế học [NXB từ điển Bách Khoa, HN 2001. Tr42] “ Năng lực cạnh tranh là khả năng giành được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn bộ thị phần của đồng nghiệp”.
Nguyễn Hữu Thắng [ Tài liệu tham khảo 5] “ Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt tới lợi ích kinh tế cao và bền vững”. Như vậy, có thể hiểu rằng NLCT của doanh nghiệp là sự thể hiện thực lực là lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao, bằng việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển thu đươc lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị thị trường. SVTH: Đinh Thị Thủy Lớp: K48A2 Luan van Khóa luận tốt nghiệp 8 GVHD: Th.S Đào Thị Phương Mai 1. Một số thuật ngữ liên quan Nguồn nhân lực Là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi các nhân và của đất nước.
Theo nghĩa rộng: Nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Theo nghĩa hẹp: Nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động.com) Thị phần Là chỉ tiêu mà các doanh nghiệp thường dùng để đánh giá mức độ chiếm lĩnh thị trường của mình so với các đối thủ cạnh tranh. Lợi nhuận Là một phần dôi ra của doanh thu sau khi đã trừ các chi phí dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Chi phí Là chỉ tiêu phản ánh số tiền doanh nghiệp bỏ ra để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh.
Sản phẩm Sản phẩm là những hàng hóa và dịch vụ với những thuộc tính nhất định, với những lợi ích cụ thể nhằm thỏa mãn những nhu cầu đòi hòi của khách hàng. Giá cả Là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa, nghĩa là số lượng tiền phải trả cho hàng hóa đó. Các nội dung của vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Để làm cơ sở lý luận phân tích thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, đề tài tập chung nghiên cứu một số nội dung lý thuyết sau: SVTH: Đinh Thị Thủy Lớp: K48A2 Luan van Khóa luận tốt nghiệp 9 GVHD: Th.S Đào Thị Phương Mai 1. Phân loại cạnh tranh 1.
Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế Cạnh tranh giữa các ngành Là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành kinh tế khác nhau, nhằm giành lấy thuận lợi lớn nhất. Trong quá trình cạnh tranh này các chủ doanh nghiệp luôn hướng tới đầu tư vào các ngành có lợi nhuận cao hơn nên đã chuyển vốn từ ngành ít lợi nhuận sang ngành nhiều lợi nhuận. Sự điều chuyển tự nhiên theo lợi nhuận này sau một thời gian nhất định sẽ hình thành nên sự phân phối vốn hợp lý giữa các ngành sản xuất, tức là hình thành nên tỷ suất lợi nhuận bình quân giữa các ngành. Cạnh tranh trong nội bộ ngành Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, sản xuất và tiêu dùng cùng một chủng loại sản phẩm.
Trong cuộc cạnh tranh này có sự thôn tính lẫn nhau, các doanh nghiệp phải áp dụng mọi biện pháp để thu được lợi nhuận như cải tiến kĩ thuật, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí cá biệt của hàng hóa nhằm thu được lợi nhuận siêu ngạch. Vì vậy, trình độ sản xuất ngày phát triển, các doanh nghiệp không đủ khả năng cạnh tranh có thể bị thu hẹp hoặc thậm chí bị phá sản. Cạnh tranh quốc gia Đây là hình thức cạnh tranh diễn ra trên quy mô rộng lớn nhất, giữa các quốc gia với nhau nhằm tìm kiếm thị trường đầu tư, xuất khẩu thu lợi nhuận nhiều hơn. Mỗi quốc gia có lợi thế cạnh tranh riêng, có khả năng về một lĩnh vực, ngành nghề nào đó theo định hướng phát triển của mỗi quốc gia và được coi là lợi thế quốc gia.
Căn cứ vào chủ thể tham gia cạnh tranh Cạnh tranh giữa người bán với người mua Là cuộc cạnh tranh giữa người bán và người mua diễn ra theo quy luật mua rẻ bán đắt trên thị trường. Người bán muốn bán sản phẩm của mình với giá cao, ngược lại người mua muốn mua sản phẩm với giá thấp. Do đó, giá cuối cùng được thống nhất giữa người mua và người bán sau quá trình giao dịch, trao đổi. Cạnh tranh giữa những người mua với nhau Là cuộc cạnh tranh xảy ra khi cung nhỏ hơn cầu.
Khi lượng cung một loại hàng hóa, dịch vụ nào đó quá thấp so với nhu cầu tiêu dùng thì cuộc cạnh tranh giữa những người mua sẽ trở nên quyết liệt. Lúc này, giá sẽ đẩy lên cao. tăng vọt nhưng do hàng SVTH: Đinh Thị Thủy Lớp: K48A2 Luan van Khóa luận tốt nghiệp 10 GVHD: Th.S Đào Thị Phương Mai hóa khan hiếm nên người mua vẫn sẵn sàng trả giá cao cho hàng hóa mình cần. Do đó, người bán thu được lợi nhuận cao còn người mua thì bị thiệt hơn.
Cạnh tranh giữa những người bán với nhau Đây là cuộc cạnh tranh chính trên thị trường mạng tính quyết liệt nhất và có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại của doanh nghiệp. Cuộc cạnh tranh này thường diễn ra trong trường hợp cung lớn hơn cầu, khi đó người bán sẽ cạnh tranh với nhau để giành khách hàng và thị trường. Khi đó, giá sẽ giảm và người mua được lợi.