CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY TNHH TRÊN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm cạnh tranh Thuật ngữ “Cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, sinh thái, thể thao, thường xuyên được nhắc tới trong sách báo chuyên môn, diễn đàn kinh tế cũng như các phương tiện thông tin đại chúng và được sự quan tâm của nhiều đối tượng, từ nhiều góc độ khác nhau, dẫn đến có rất nhiều khái niệm khác nhau về “cạnh tranh”, cụ thể như sau: Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hang hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung- cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất. Theo Michael Porter thì: Cạnh tranh là giành lấy thị phần.
Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi (1980). Theo Karl Marx, khi nghiên cứu sự hình thành lợi nhuận bình quân và sự chuyển há giá trị hang hóa thành giá trị thị trường và giá cả sản xuất, ông cũng đã đề cập cạnh tranh gắn bó với quan hệ cung cầu của hàng hóa. Karl Marx đã chia cạnh tranh thành cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành với nhau; cạnh tranh giữa các người bán với nhau khi mà cung lớn hơn cầu và cạnh tranh giữa những người mua với nhau khi mà cầu lớn hơn cung.
Có rất nhiều khái niệm về cạnh tranh, song có thể hiểu một cách chung nhất về cạnh tranh như sau: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các doanh nghiệp ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, kể cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt được mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Khái niệm năng lực cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp. Đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong từng điều kiện, bối cảnh và trình độ phát triển mà có những quan niệm khác nhau.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so 6 với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao. Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: Năng lực cạnh tranh là khả năng của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh, hoặc một nước giành thắng lợi (kể cả giành lại một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ. Theo Michael Porter: Năng lực cạnh tranh của công ty có thể hiểu là khả năng chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ các sản phẩm cùng loại (hay sản phẩm thay thế) của công ty đó. Năng lực giành giật và chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ cao thì doanh nghiệp đó có năng lực cạnh tranh cao.
Micheal Porter không bó hẹp ở các đối thủ cạnh tranh trực tiếp mà ông mở rộng ra các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn và các sản phẩm thay thế. Theo tác giả Vũ Trọng Lâm: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Như vậy, những định nghĩa trên cho thấy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ khả năng, thực lực của doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp được coi là có Năng lực cạnh tranh khi doanh nghiệp đó dám chấp nhận việc giành những điều kiện thuận tiện có lợi cho doanh nghiệp.
Doanh nghiệp cần phải có tiềm lực đủ mạnh để đảm bảo đứng vững trong cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dựa trên nhiều yếu tố như: giá trị sử dụng và chất lượng sản phẩm cao, điều kiện sản xuất ổn định do sản xuất chủ yếu trên cơ sở kĩ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến, quy mô sản xuất lớn và nhờ đó giá thành và giá cả sản phẩm hạ. Các yếu tố xã hội như giữ được chữ tín trên thị trường, việc tuyên truyền, hướng dân tiêu dung, quảng cáo cũng có ảnh hưởng quan trọng. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng chịu ảnh hưởng bởi yếu tố môi trường kinh doanh và sự biến động khôn lường của nó, cùng một sự thay đổi của môi trường kinh doanh có thể là cơ hội phát triển cho doanh nghiệp này cũng có thể là nguy cơ phá sản các doanh nghiệp khác.
Đặc điểm, vai trò, phân loại cạnh tranh a. Đặc điểm của cạnh tranh Cạnh tranh là hiện tượng xã hội diễn ra giữa các chủ thể kinh doanh Với tư các là một hiện tượng xã hội, cạnh tranh chỉ xuất hiện khi tồn tại những tiền đề nhất định sau đây: - Có sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và các hình thức sở hữu khác nhau. Kinh tế học đã chỉ rõ cạnh tranh là hoạt động của các chủ thể kinh doanh nhằm tranh giành hoặc mở rộng thị trường, đòi hỏi phải có sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp trên thị trường. Cạnh tranh chỉ thực sự trở thành động lực thúc đẩy 7 100% lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ theo quy định của bộ tài chính và luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam.
Là công ty bảo hiểm có vốn điều lệ lớn nhất Việt Nam với hơn 18 công ty, phục vụ hơn 800.000 khách hàng tại 61 văn phòng ở 45 tỉnh thành trên toàn quốc. Lợi thế của Công ty Manulife so với Chubb Life là thương hiệu và nhiều năm kinh nghiệm làm việc và phát triển thị trường Việt Nam. Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ Dai-ichi Life Việt Nam: Công ty bảo hiểm Đai Ichi là một trong những công ty bảo hiểm lớn tại Việt Nam, được thành lập vào năm 2007 với 100% vốn từ Nhật Bản. Dai ichi Life Việt Nam sở hữu 290 văn phòng chi nhánh từ bắc tới nam, hơn 1.400 nhân viên và hơn 85.000 nhân viên tư vấn chuyên nghiệp với tổng tài sản lên đến 30.000 tỷ đồng với hơn 3 triệu người tham gia.
Xét về lợi thế thì Dai Ichi sở hữu hệ thống văn phòng phục vụ hoạt động kinh doanh nhiều hơn ở Chubb Life nhưng lại xếp sau Chubb Life về tiềm lực tài chính, năng lực bảo hiểm,… Tổng công ty Bảo Việt nhân thọ: Công ty Bảo hiểm Bảo Việt Là công ty bảo hiểm được chính phủ Việt Nam từ năm 1965 do bộ tài chính quản lý và phát triển. Có 100% vốn từ tập đoàn Bảo Việt. Công ty mang đến cho khách hàng hơn 50 sản phẩm với 75 công ty thành viên, 300 điểm giao dịch, 200 chi nhánh tại 64 tỉnh thành trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Công ty sở hữu hơn 2000 cán bộ có chuyên môn cao và 100.000 nhân viên tư vấn dịch vụ chuyên nghiệp.
Đến năm 2020, Bảo Việt đã phục vụ hơn 15.2 triệu khách hàng và chi hơn 41.000 tỷ cho khách hàng và đầu tư trở lại cho nền kinh tế hơn 140. Với danh tiếng và bề dày kinh nghiệm hoạt động ở lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ,là một thương hiệu của Việt Nam chiếm lĩnh niềm tin của khách hàng Bảo Việt Nhân Thọ có lợi thế hơn hẳn so với Chubb Life- một doanh nghiệp nước ngoài trên thị trường nội địa. Phân tích thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Chubb Việt Nam trên thị trường nội địa 2. Về chỉ tiêu định tính a.
Uy tín, thương hiệu của Công ty Xuất phát từ triết lý kinh doanh của người đứng đầu Chubb Life Việt Nam: “Muốn tồn tại lâu dài, công ty phải có uy tín và hiệu quả kinh doanh”, trong hành trình phát triển hơn 16 năm qua, Chubb Life Việt Nam luôn khẳng định vị thế vững chắc của mình trong một thị trường không ít biến động. Trong nhiều năm qua Chubb Life luôn hướng đến xây dựng cho mình một thương hiệu uy tín, chất lượng trong ngành dịch vụ bảo hiểm. Từ khi bắt đầu thành lập cho đến nay, Chubb Life đã được đón nhận được rất nhiều giải thưởng, chứng nhận thương hiệu. Chỉ riêng trong năm 2020, doanh nghiệp 28 này đã được vinh danh những giải thưởng lớn.
Cụ thể là “Nơi làm việc tốt nhất châu Á năm 2020” và mới đây nhất là “Top 10 Doanh nghiệp tiêu biểu có nguồn nhân lực hạnh phúc”. "Thương hiệu bảo hiểm được yêu thích nhất năm 2020" trong lễ trao giải "Thương hiệu Việt yêu thích nhất" vào ngày 27/6/2020. và gần đây nhất Chubb Life vẫn đứng trong danh sách “Top 10 công ty Bảo hiểm nhân thọ uy tín năm 2021” do Vietnam Report – đây là năm thứ 6 liên tiếp Công ty góp mặt trong danh sách này.1: Top 10 Công ty bảo hiểm nhân thọ uy tín năm 2020 (Nguồn : Vietnam Report, Top 10 Công ty bảo hiểm uy tín năm 2020) Ông Lâm Hải Tuấn, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng giám đốc Chubb Life Việt Nam, khẳng định: “Chubb Life Việt Nam luôn lựa chọn chiến lược phát triển bền vững, tập trung vào hiệu quả kinh doanh, xây dựng uy tín doanh nghiệp và nâng cao chất lượng sản phẩm - dịch vụ để mang đến lợi ích tối ưu cho khách hàng”. Uy tín thương hiệu của công ty đã giúp quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty dễ dàng hơn rất nhiều bởi Công ty đã có được niềm tin nơi khách hàng.
Chính vì thế, Công ty đã nỗ lực không ngừng. Các sản phẩm bảo hiểm của Chubb Life Việt Nam được đánh giá cao và thỏa mãn được nhu cầu của khách hàng kể cả những nhu cầu khắt khe nhất của khách hàng. Công ty luôn luôn nỗ lực tìm kiếm những sản phẩm mới với chất lượng cao phù hợp với nhiều đối tượng khách hàng nhất, đồng thời lấy đó làm một trong những tiêu chí để phát triển, để nâng cao NLCT. Chất lượng sản phẩm, dịch vụ 29 “Tối ưu lợi ích của Khách hàng” là mục tiêu hàng đầu mà Chubb Life luôn hướng đến trong quá trình hoạt động của mình.
Chubb Life không ngừng nỗ lực nghiên cứu, sáng tạo những sản phẩm thích nghi nhất với nhu cầu và khả năng của nhiều đối tượng khác nhau.