phần Mở đầu, Kết luận, và Mục lục thì kết cấu của luận văn đƣợc chia thành 3 phần : Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh Chƣơng 2: Thực trạng kinh doanh và năng lực cạnh tranh của Hanoimilk Chƣơng 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Hanoimilk tại thị trƣờng sữa Việt Nam 6 z Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1. Khái quát về năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm về cạnh tranh: Mọi quan hệ giao tiếp mà các bên tham gia nỗ lực tìm kiếm vị thế có lợi cho mình đều có thể diễn tả trong khái niệm cạnh tranh. Khái niệm cạnh tranh đƣợc xem xét đầy đủ trên cả 2 mặt đó là tạo động lực cho việc vƣơn tới 1 kết quả tốt nhất, mặt khác khi doanh nghiệp cạnh tranh một cách cực đoan có thể dẫn đến những kết quả tiêu cực, không nhƣ mong muốn.
o Tiếp cận ở góc độ kinh tế chính trị học thì: “ Cạnh tranh là hành động ganh đua về kinh tế giữa các chủ thể trong nền sản xuất nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ các dịch vụ hoặc hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích cho mình nhất. Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những người sản xuất với nhau, giữa người tiêu dùng với nhau, giữa người sản xuất và tiêu dùng.” [13,25] o Theo định nghĩa của từ điển kinh tế thì: “ Cạnh tranh là sự đấu tranh là sự đấu tranh đối lập giữa các cá nhân, tập đoàn hay quốc gia, cạnh tranh nảy sinh khi 2 hay nhiều bên cố gắng giành lấy thứ không phải ai cũng có thể giành được.” [12,19] o Theo Michael Porter thì: “ Cạnh tranh là giành lấy thị phần, bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả của quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu, dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi.” [1,15] Có nhiều biện pháp cạnh tranh nhƣ cạnh tranh giá cả, cạnh tranh về chất lƣợng dịch vụ, cạnh tranh về nhân lực…điểm chung dễ nhận thấy cạnh tranh diễn ra trong mọi ngành, mọi lĩnh vực. Nếu cạnh tranh trong điều kiện công bằng có thể sản xuất ra những sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đáp ứng đƣợc những đòi hỏi của thị trƣờng, nâng cao và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
Ngƣợc lại, nếu 7 z cạnh tranh trong một môi trƣờng không hoàn hảo rất dễ tới những hành động cạnh tranh xấu, vi phạm đạo đức nhằm chiếm lĩnh thị trƣờng và hủy diệt đối thủ, và kết quả mà nó đem đến cho ngƣời tiêu dùng không phải bao giờ cũng là tốt đẹp. Năng lực cạnh tranh và các cấp độ của năng lực cạnh tranh Ta có thể thấy đƣợc rằng cạnh tranh là một quy luật tự nhiên tất yếu, khi các doanh nghiệp muốn tồn tại, phát triển và đạt đƣợc một số kết quả mong muốn nhƣ lợi nhuận, giá cả, chất lƣợng sản phẩm.không có sức ép từ cạnh tranh chúng ta có dám chắc những sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp cho ngƣời tiêu dùng đã là tốt nhất, hoàn hảo nhất, câu trả lời có lẽ là không. Đối với doanh nghiệp cạnh tranh không phải là một vấn đề, mà năng lực cạnh tranh mới là điều đáng phải quan tâm. Về năng lực cạnh tranh hiện nay chƣa có sự nhất trí về khái niệm đó, có nhiều cách hiểu về năng lực cạnh tranh từ đó dẫn tới cách tiếp cận vấn đề năng lực cạnh tranh tƣơng đối đa dạng.
o Tiếp cận theo cách thông thƣờng thì: “ Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp đó tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững.” [12,70] Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đƣợc đánh giá thông qua những tiêu chí sau: - Sản lƣợng. - Tỷ suất lợi nhuận. - Chất lƣợng hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh. - Khả năng đáp ứng các yêu cầu của khách hàng so với đối thủ cạnh tranh.
- Thƣơng hiệu, uy tín của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh. o Theo Michael Porter thì: 8 z “ Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là việc khai thác, sử dụng thực lực, các lợi thế bên trong và bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại, phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao, và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường.” [1,35] Năng lực cạnh tranh theo Porter bao gồm 4 yếu tố - Các yếu tố bản thân doanh nghiệp: Đƣợc chia làm 2 loại. Loại 1 là các yếu tố cơ bản (môi trƣờng tự nhiên, lao động), loại 2 (thông tin, trình độ lao động). Trong các yếu tố này thì yếu tố 2 có ý nghĩa quyết định đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Chúng quyết định lợi thế cạnh tranh ở những ngành công nghệ cao, và những ngành có tính độc quyền. Trong dài hạn, doanh nghiệp cần đầu tƣ một cách đầy đủ và đúng mức. - Nhu cầu của khách hàng: Đây là yếu tố có tác động rất lớn đến sự phát triển của doanh nghiệp. Thực tế cho thấy không có một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy đủ tất cả những yêu cầu của khách hàng, thƣờng thì doanh nghiệp có lợi thế về mặt này thì lại hạn chế về mặt khác.
Thông qua nhu cầu khách hàng, doanh nghiệp có thể tận dụng đƣợc lợi thế theo quy mô, từ đó cải thiện các hoạt động kinh doanh và dịch vụ của mình, nó cũng gợi mở cho doanh nghiệp phát triển các loại hình dịch vụ và sản phẩm mới. Các loại hình này có thể đƣợc phát triển rộng rãi ra thị trƣờng bên ngoài và khi đó doanh nghiệp là ngƣời trƣớc tiên đƣợc hƣởng lợi thế cạnh tranh. - Các lĩnh vực có liên quan và phụ trợ: Sự phát triển của doanh nghiệp không thể tách rời sự phát triển các lĩnh vực có liên quan và phụ trợ nhƣ tài chính, công nghệ, viễn thông…các yếu tố này hỗ trợ và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. - Chiến lƣợc của doanh nghiệp, cấu trúc ngành và đối thủ cạnh tranh: Sự phát triển của hoạt động doanh nghiệp sẽ thành công nếu đƣợc tổ chức và quản lý trong một môi trƣờng phù hợp và kích thích đƣợc các lợi thế cạnh tranh của nó.
Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sẽ là yếu tố thúc đẩy sự cải tiến nhằm giảm chi phí, nâng cao chất lƣợng sản phẩm, dịch vụ. 9 z Dù hiểu và tiếp cận vấn đề năng lực cạnh tranh theo góc độ nào ta cũng nhận thấy có những điểm chung trong các quan niệm trên về năng lực cạnh tranh đó là thƣớc đo cho sức mạnh của doanh nghiệp so với các đối thủ, là những lợi thế bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp nhằm tạo đƣợc những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn ngƣời tiêu dùng giúp cho doanh nghiệp có thể tồn tại, phát triển trong một môi trƣờng cạnh tranh khốc liệt và ngƣời tiêu dùng ngày càng có nhiều quyền lực hơn. Các cấp độ của năng lực cạnh tranh: Khi đề cập đến các cấp độ của năng lực cạnh tranh, ngƣời ta thƣờng chia ra thành 3 cấp độ: Quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm. o Xét trên cấp độ quốc gia, có 2 hệ thống lý thuyết với 2 phƣơng pháp đánh giá đƣợc các nƣớc và các thiết chế kinh tế quốc tế sử dụng nhiều nhất: - Phƣơng pháp thứ nhất do Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) thiết lập trong bản Báo cáo cạnh tranh toàn cầu.
Dựa trên bốn yếu tố cơ bản đƣợc coi là ảnh hƣởng tới chỉ số cạnh tranh của quốc gia là: Lạm phát, cơ sở hạ tầng, trình độ lao động và mức độ tham nhũng. Báo cáo này đã đƣợc thực hiện hàng chục năm qua và cho thấy bức tranh tổng quan và toàn diện về những điểm mạnh và điểm yếu của nền kinh tế các nƣớc, từ đó nhận định cơ hội và thách thức. Bảng xếp hạng này cũng phản ánh các nhân tố ảnh hƣởng tới môi trƣờng kinh doanh của một quốc gia, vốn cũng là các yếu tố cơ bản đối với tăng trƣởng bền vững. Nhận xét về độ tin cậy của bảng xếp hạng WEF, nhiều chuyên gia kinh tế nói “chỉ mang tính tƣơng đối, và ảnh hƣởng không nhiều tới tâm lý của các nhà đầu tƣ”.
- Phƣơng pháp thứ hai do Viện Quốc tế về quản lý và phát triển (IMD) đề xuất trong cuốn Niên giám cạnh tranh thế giới. Từ năm 1989, mỗi năm IMD đều công bố bảng xếp hạng này, thông qua các số liệu thống kê và một cuộc khảo sát quy mô, IMD xếp loại tính cạnh tranh của các nền kinh tế dựa trên rất nhiều tiêu chí, đƣợc chia thành 4 nhóm chính là: Tăng trƣởng kinh tế, năng lực của chính phủ, năng lực của doanh nghiệp, và cơ sở hạ tầng. Thƣờng thì kết quả của bảng xếp hạng này cũng không khác nhiều so với WEF. 10 z o Trên góc độ doanh nghiệp, nhƣ đã trình bầy ở trên dựa trên 4 nhóm yếu tố cơ bản - Chất lƣợng, khả năng cung ứng, và mức độ chuyên môn hóa đầu vào.
- Các ngành sản xuất và dịch vụ trợ giúp doanh nghiệp. - Yêu cầu của khách hàng và chất lƣợng của sản phẩm dịch vụ. - Vị thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh. o Cấp độ cạnh tranh cuối cùng là sản phẩm: Đứng trên quan điểm của khách hàng, sản phẩm và dịch vụ là tất cả những gì cung cấp trên thị trƣờng nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng.
Nhu cầu của khách hàng thì vô cùng đa dạng. Một loại sản phẩm có thể đáp ứng nhiều loại nhu cầu khác nhau, hãy mƣờng tƣợng sản phẩm của chúng ta nhƣ 4 vòng trong đồng tâm, cái bên ngoài bao lấy cái bên trong tạo ra 4 cấp độ của sản phẩm: - Phần cơ bản là nguyên nhân chính để khách hàng mua sản phẩm, đó là các lợi ích cốt lõi mà sản phẩm đem lại, đơn giản nhƣ chúng ta mua 1 chiếc điện thoại thì lợi ích cốt lõi chiếc điện thoại đem đến cho chúng ta là có thể nghe, gọi điện thoại một cách bình thƣờng. - Phần thực tế là các đặc tính nhƣ chất lƣợng, nhãn hiệu, mẫu mã, bao bì.